1. Chủ thể của tội phạm là gì ?

Khái niệm Chủ thể của tội phạm là con người cu thể thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội một cách cố ý hoặc vô ý, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định của Luật Hình sự.

Chủ thể tội phạm theo quy định của Luật Hình sự Việt Nam phải là con người cụ thể chứ không chấp nhận chủ thể của tội phạm là tổ chức. Tổ chức không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Chỉ có cá nhân cụ thể trong tổ chức phạm tội mới phải chịu trách nhiệm hình sự, đây là sự khác biệt của Luật Hình sự Việt Nam so với Luật Hình sự ở một số nước trên thế giới.

Chủ thể của tội phạm phải có những điều kiện nào ?

Chủ thể tọi phạm theo quy định của pháp luật Hình sự Việt Nam phải có đủ các dấu hiệu sau đây:

- Chủ thể của tội phạm phải là một người cụ thể đang sống. Khi người phạm tội còn sống họ mới nguy hiểm cho xã hội, cần giáo dục để họ trở thành người có ích cho xã hội. Chỉ con người đang sống mới cần cải tạo, giáo dục. Luật Hình sự Việt Nam quy định chủ thể là con người cụ thể thực hiện hành vi phạm tội, vậy pháp luật Hình sự không cho phép người khác chịu trách nhiệm hình sự thay cho người phạm tội, kể cả họ là người thân thích ruột thịt. Đây là nguyên tắc cá nhân hóa, cụ thể hóa trách nhiệm hình sự. Pháp luật Hình sự không cho phép truy cứu trách nhiệm hình sự người đã chết. Sau khi phạm tội, trước khi bị khởi tố nếu người phạm tội đã chết thì không được khởi tố vụ án hình sự. Trong quá trình điều tra, nếu người phạm tội đã chết thì phải đình chỉ vụ án với họ.

- Chủ thể của tội phạm phải là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Chỉ những người đủ năng lực trách nhiệm hình sự mới hiểu rõ hành vi của mình đúng hay sai, mới điều khiển được, tự chủ được hành vi của mình. Người đủ năng lực trách nhiệm hình sự là người không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh tật làm mất khả năng nhận thức hoặc tự chủ hành vi của mình. Pháp luật Việt Nam dựa vào 2 tiêu chuẩn để xác định năng lực trách nhiệm hình sự: tiêu chuẩn y học và tiêu chuẩn tâm lý. Theo tiêu chuẩn y học chủ thể tội phạm phải là người không đang trong thời kỳ mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác làm mất khả năng nhận thức và tự chủ hành vi của mình. Theo tiêu chuẩn tâm lý: chủ thể tội phạm phải là người nhận thức và tự chủ được hành vi của mình, là người hiểu được bản chất hành vi, điều khiển được hành vi.

- Chủ thể tội phạm phải là người đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Điều 12 Bộ luật Hình sự quy định: người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm; người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Độ tuổi theo quy định của Bộ luật Hình sự là tuổi tròn tính từ ngày tháng năm sinh đến ngày tháng năm sinh. Việc xác định độ tuổi được căn cư vào giấy khai sinh, sổ hộ khẩu. Trường hợp không xác định được độ tuổi thì phải tiến hành giám định độ tuổi.

Ngoài những dấu hiệu nói trên, có những tội phạm phải do chủ thể có điều kiện đặc biệt mới thực hiện được. Những chủ thể có dấu hiệu ấy được gọi là chủ thể đặc biệt. Dấu hiệu chủ thể đặc biệt bao gồm dấu hiệu về chức vụ, quyền hạn; dấu hiệu nghề nghiệp, tính chất công việc; dấu hiệu giới tính, dấu hiệu quan hệ gia đinh, họ hàng.

Nhân thân người phạm tội tuy không phải là dấu hiêu của chủ thể, nhưng khi truy cứu trách nhiệm hình sự bao giờ cũng phải làm rõ những đặc điểm về nhân thân người phạm tội, điều đặc biệt coi trọng là những đặc điểm về lai lịch tư pháp của họ như tiền án, tiền sự áp dụng hình phạt thỏa đáng, nhằm đạt hiệu quả giáo dục, cải tạo người phạm tội.

Trân trọng ./.

>> Xem thêm:  Tư vấn quản trị tài chính cho doanh nghiệp

2. Chủ thể của tội nhận hối lộ ?

Xin chào luật sư! Hiện em đang gặp một việc có liên quan đến pháp luật và muốn xin ý kiến luật sư, nhờ luật sư xem xét và tư vấn giúp em. Em đang rất lo lắng mấy ngày nay, không tập trung được cho công việc và bị trầm cảm nặng.
Sự việc như sau: Em có làm cho công ty A từ ngày 3/11/2014 đến ngày 25/01/2016 vị trí của em là nhân viên thu mua, trong quá trình làm việc, em có mua hàng của công ty B, công ty B có trích khoản hoa hồng 2% mỗi tháng gửi vào tài khoản cho em, nhóm em gồm có 5 thành viên, em đại diện nhận tiền và chia cho các bạn, tài khoản công ty B gửi là tài khoản cá nhân không phải tài khoản đứng tên công ty B- Nhân viên kế toán công ty B thực hiện ra ngân hàng chuyển tiền vào tài khoản cá nhận đứng tên em (3 tháng mới chuyển một lần). Sau đó vì một số lý do nhân viên kế toán của công ty B sau khi nghỉ việc có gửi đơn tố cáo lên công ty A. Thanh tra công ty A tiến hành điều tra và cho các nhân viên có nhận hoa hồng còn lại thôi viêc, bản thân em đã nghỉ trước đó nên không bị sa thải. Công ty A sau khi sa thải nhân viên và lấy lời khai từ các nhân viên của mình bắt đầu gửi đơn tố cáo cho công an kinh tế. Nội dung tố cáo là: Công ty B mua hóa đơn, trốn thuế và đưa hối lộ hơn 300tr ( tương đương 2-3% tiền hoa hồng mỗi tháng) cho nhân viên công ty A. Bản thân em mặc dù đã nghỉ việc từ lâu nhưng là người đứng đầu nhóm nhận tiền và trong đơn tố cáo có tên em và số tài khoản của em nên bị công an kinh tế mời lên lấy lời khai. Họ có hỏi em như sau:
+ Em làm việc ở công ty A từ khi nào, nhiệm vụ chính là gì: Em có trả lời theo như thời gian trên và trả lời nhiệm vụ chính của em là nhận yêu cầu mua hàng từ bộ phận sau đó lên đơn hàng gửi nhà cung cấp và kiểm soát hàng hóa về số lượng. Em không được lựa chọn giá và nhà cung cấp, việc lựa chọn là do lãnh đạo công ty quyết định, cũng không tham gia vào việc nhận hàng việc đó của bộ phận khác.
+ Em có quan hệ gì với giám đốc công ty B: Em trả lời em là nhân viên mua hàng và giám đốc công ty B là giám đốc của công ty có cung cấp hàng hóa cho em nên có quan hệ trong công việc.
+ Em có nhận tiền của công ty B không: Vì các bạn đã khai hết nên em cũng trả lời thành thật là có ( vì em trả lời thật quá nên giờ em mới lo lắng không biết mình có bị kết tội nhận hối lộ không?)
+ Họ hỏi tiếp số tiền là bao nhiêu: Em trả lời là 90 triệu, mô tả chi tiết mỗi lần nhận chia cho ai cho ai, ghi rõ tên những thành viên còn lại. + Họ hỏi em lý do vì sao nhà cung cấp cho tiền em: Ban đầu em trả lời là lễ tết họ cho như quà cáp, tuy nhiên sau khi bị anh công an quần một hồi và dẫn em vô lý lẽ của anh em lại trả lời như sau: Em không có quyền quyết định giá hay nhà cung cấp (nói rõ các mặt hàng em mua là hàng thực phẩm nên được duyệt giá và nhà cung cấp từ đầu mỗi tháng) , cũng không liên quan tới việc tiếp nhận đánh giá chất lượng hàng hóa có được nhận hay không, nhưng khi bộ phận đưa yêu cầu mua hàng căn cứ trên mức giá được duyệt nếu có 2 nhà cung cấp được duyệt giá trong đó có nhà cung cấp B em sẽ ưu tiên hơn chọn mua nhà cung cấp B câu trả lời này theo anh công an dẫn dắt ra thành câu “ quan tâm tới việc đặt hàng” là một lý do, thêm một lý do nữa tự em ngu ngu nói ra đó là em đối chiếu công nợ nhanh chóng cho nhà cung cấp nên họ cho tiền mặt dù nhà cung cấp B muốn nhận tiền phải đợi kế toán kiểm tra lại lần nữa hồ sơ có khớp hay không mới quyết định thanh toán. Anh công an nhiều lần lặp đi lặp lại câu không ai cho không ai cái gì em nghe xong cũng gật đầu đồng ý. Bây giờ nghĩ lại thấy mình ngu quá.
+ Họ hỏi em hiện làm việc mới ở đâu, công ty nào, hiện tại ở trọ trong Sài Gòn tại địa chỉ nào, bố mẹ em tên gì sinh năm bao nhiêu: Em thành thật quá nên trả lời thật hết luôn, giờ nghĩ lại không biết họ có làm gì ảnh hưởng tới công việc hiện tại của mình không. Vì anh công an kinh tế này từng gửi giấy mời về tận quê em rồi gọi cho công an xã em nên hiện người nhà em rất lo.
+ Họ còn bắt em phải đi sao kê số tài khoản mà công ty B gửi tiền cho em: Em cũng đã viết lời khai cam kết cung cấp bảng sao kê, nhưng em có nói hiện công việc mới của em bận quá không sắp xếp ra ngân hàng được, anh công an có nói là khi nào em tranh thủ trưa chạy lên xin sao kê và đưa cho anh để anh chứng minh em không nhận tới 300tr, rồi nói để bảo vệ cho em gì đó.
Nhưng giờ em suy nghĩ lại không đơn giản như họ nói vì em suy nghĩ quá đơn giản nên mới khai thành thật, em muốn hỏi giờ em không muốn nộp bản sao kê thì có bị làm sao không vì em có viết lời khai cam kết nộp và nếu em nộp liệu em có bị kết tội nhận hối lộ không? Vì em có tham khảo trên mạng một số trang pháp luật có nói nếu em nhận tiền từ công ty B em được lợi ích và công ty B cũng được lợi ích ( theo lý do cho tiền em đã trả lời trên) thì em sẽ bị kết tội nhận hối lộ. Em thật sự rất hoang mang và lo sợ ?
Mong tư vấn từ luật sư. Em chân thành cảm ơn

Chủ thể của tội phạm là gì ? Chủ thể của tội phạm phải có những điều kiện nào ?

Luật sư tư vấn hình sự trực tuyến, Gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Theo quy định tai Điều 86 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 thì chứng cứ được quy định như sau:

Điều 86. Chứng cứ

Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án.

Vậy tờ khai tài khoản ngân hàng cũng được coi là chứng cứ nếu cơ quan điều tra yêu cầu bạn cung cấp thì buộc bạn phải cung cấp, để cơ quan công an có thể xác định bạn có hay không có hành vi phạm tội.

- Tội nhận hối lộ theo quy định trong Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2015 như sau:

"Điều 354. Tội nhận hối lộ

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào sau đây cho chính bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm

...."

Chủ thể của tội nhận hối lộ là người có chức vụ quyền hạn. Vậy bạn phải là người có chức vụ quyền hạn mới phạm phải tội này. Vì bạn không nói rõ công ty A là công tư tư hay công ty nhà nước, nếu là công ty nhà nước thì nhân viên công ty A nhận tiền có chức vụ không? và hành vi nhận hối lộ cấu thành tội nhận hối lộ khi của hối lộ có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lí kỉ luật về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Giấy mời và giấy triệu tập của Công an khác nhau như thế nào theo quy định của Pháp Luật ?

3. Quy định của pháp luật về chủ thể của tội cưỡng dâm ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi như sau: Chủ thể của tội cưỡng dâm điều 113 BLHS quy định là ai? Xin cám ơn Luật sư!
Người gửi: Trần Văn Hiếu.

Trả lời:

Tội cưỡng dâm được quy định tại Điều 143 Bộ luật Hình sự 2015 như sau:

" Điều 143. Tội cưỡng dâm

1. Người nào dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm."

Theo điều luật thì chủ thể của tội cưỡng dâm là "Người nào". Do đó chủ thể là bất cứ ai thực hiện hành vi có đủ cấu thành tội phạm này đều trở thành chủ thể của tội phạm. Đó là các điều kiện:

a. Độ tuổi: đủ 14 tuổi trở lên.

b. Năng lực trách nhiệm hình sự: Có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự (Có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình).

c. Hành vi: dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu

d. Lỗi: cố ý.

Tuy nhiên trên thực tế xét xử, thường xét xử chủ thể là nam giới. Nữ giới chỉ bị xét xử với vai trò đồng phạm (giúp sức, xúi giục hoặc tổ chức).

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Bộ phiếu điều tra thông tin kinh tế kèm theo phiếu thu thập thông tin doanh nghiệp năm 2020

4. Chủ thể bồi thường thiệt hại dân sự trong một vụ án hình sự ?

Chào luật sư, tôi có câu hỏi nhờ luật sư giải đáp giúp. Trong một vụ án giết người, người phạm tội bị kết án 18 năm tù và bồi thường cho con bị hại 1triệu đồng/ tháng đến đủ 18 tuổi, vậy trong thời giam thi hành án ai là người phải chi trả số tiền bồi thường đó ?
Nhờ luật sư trả lời giúp, xin cảm ơn.

Luật sư trả lời:

Căn cứ Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 về tuổi chịu trách nhiệm hình sự được quy định cụ thể như sau:

Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.

2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều sau đây:

a) Điều 143 (tội cưỡng dâm); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi);

b) Điều 170 (tội cưỡng đoạt tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 173 (tội trộm cắp tài sản); Điều 178 (tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản);

c) Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy);

d) Điều 265 (tội tổ chức đua xe trái phép); Điều 266 (tội đua xe trái phép);

đ) Điều 285 (tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật); Điều 286 (tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 287 (tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 289 (tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác); Điều 290 (tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản);

e) Điều 299 (tội khủng bố); Điều 303 (tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 304 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự).

Căn cứ hình phạt được áp dụng đối với người chưa thành niên quy định tại Điều 98 Bộ luật Hình sự 2015:

Điều 98. Các hình phạt được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ bị áp dụng một trong các hình phạt sau đây đối với mỗi tội phạm:

1. Cảnh cáo.

2. Phạt tiền.

3. Cải tạo không giam giữ.

4. Tù có thời hạn.

Căn cứ vào Điều 32 , Điều 99 Bộ luật Hình sự quy định về hình thức phạt tiền đối với người phạm tội như sau:

Điều 32. Các hình phạt đối với người phạm tội

1. Hình phạt chính bao gồm:

a) Cảnh cáo;

b) Phạt tiền;

c) Cải tạo không giam giữ;

d) Trục xuất;

đ) Tù có thời hạn;

e) Tù chung thân;

g) Tử hình.

2. Hình phạt bổ sung bao gồm:

a) Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định;

b) Cấm cư trú;

c) Quản chế;

d) Tước một số quyền công dân;

đ) Tịch thu tài sản;

e) Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính;

g) Trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính.

3. Đối với mỗi tội phạm, người phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.

Căn cứ quy định về phạt tiền quy định tại Điều 99 Bộ luật Hình sự 2015:

Điều 99. Phạt tiền

Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, nếu người đó có thu nhập hoặc có tài sản riêng.

Mức tiền phạt đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội không quá một phần hai mức tiền phạt mà điều luật quy định.

Như vậy hình thức phạt tiền có thể là hình thức phạt bổ sung hoặc là hình phạt chính, theo thông tin bạn cung cấp thì người phạm tội đã chấp hành hình phạt chính là từ 18 năm, trường hợp này thì hình phạt tù là hình phạt bổ sung.

Trường hợp bạn cung cấp thông tin là thuộc trường hợp bồi thường thiệt hại dân sự trong vụ án hình sự. ​

​Căn cứ Điều 63 và Điều 64 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 có quy định về nguyên đơn dân sự và bị đơn dân sự trong vụ án hình sự như sau:

Điều 63. Nguyên đơn dân sự

1. Nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại.

...

Như vậy, gia đình vạn cần làm đơn lên tòa án để yêu cầu về bồi thường thiệt hại

Điều 64. Bị đơn dân sự

1. Bị đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức mà pháp luật quy định phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

...

5.Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

Thưa luật sư, căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại quy định trong Luật dân sự là như thế nào?

Trả lời:

Theo định tại Điều 584, Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định cụ thể như sau:

Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.

Điều 585. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

1. Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

4. Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

5. Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.

Với hành vi xâm phạm tính mạng theo quy định tại khoản 1 Điều 584 và phương thức bồi thường thiệt hại nhiều lần theo quy định tại khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015.

Trên cơ sở những thông tin bạn cung cấp thì nghĩa vụ trả tiền có thể được chia ra hai trường hợp như sau:

​Người dưới 18 tuổi phạm tội và người đủ 18 tuổi Trường hợp này sẽ đối chiếu quy định pháp luật tại Điều 586 Bộ luật Dân sự 2015 về Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân để thực hiện nghĩa vụ bồi thường tiền của người phạm tội.

Điều 586. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân

1. Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.

2. Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật này.

Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.

3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Phiếu điều tra thông tin doanh nghiệp 2018 - Phiếu 1A/ĐTDN-DN