1. Đóng gói dán nhãn mới khí chưa đăng ký quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu có vi phạm pháp luật không?

Theo khoản 1 Điều 2 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2019, quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, và nhãn hiệu phải được xác lập dựa trên việc cấp văn bằng bảo hộ từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông qua thủ tục đăng ký quy định trong Luật này, hoặc thông qua việc công nhận đăng ký quốc tế theo các điều ước mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Tuy nhiên, quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng được xác lập dựa trên việc sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký. Quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý cũng được xác lập dựa trên việc cấp văn bằng bảo hộ từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định trong Luật này, hoặc dựa trên các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Do đó, trong trường hợp sản phẩm chưa được đăng ký quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, sản phẩm đó sẽ không được bảo vệ theo quyền sở hữu trí tuệ theo luật pháp. Từ đó, có thể kết luận rằng việc thực hiện hành vi đóng gói và dán nhãn mới cho sản phẩm đó không vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng việc này chỉ áp dụng trong trường hợp nhãn hiệu chưa được đăng ký, và không liên quan đến việc vi phạm quyền sở hữu công nghiệp khác như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, và chỉ dẫn địa lý.

 

2. Quy định về chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ?

Quy định về việc chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ được đề ra trong Điều 95 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 như sau:

Văn bằng bảo hộ sẽ bị chấm dứt hiệu lực trong các trường hợp sau đây:
- Chủ sở hữu văn bằng bảo hộ không nộp lệ phí duy trì hoặc gia hạn hiệu lực theo quy định;
- Chủ sở hữu văn bằng bảo hộ tuyên bố từ bỏ quyền sở hữu công nghiệp;
- Chủ sở hữu văn bằng bảo hộ không còn tồn tại hoặc chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu không còn hoạt động kinh doanh mà không có người kế thừa hợp pháp;
- Nhãn hiệu không được chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu cho phép sử dụng trong thời hạn năm năm liên tục trước ngày có yêu cầu chấm dứt hiệu lực mà không có lý do chính đáng, trừ trường hợp việc sử dụng được bắt đầu hoặc bắt đầu lại trước ít nhất ba tháng tính từ ngày có yêu cầu chấm dứt hiệu lực;
- Chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đối với nhãn hiệu tập thể không kiểm soát hoặc kiểm soát không có hiệu quả việc thực hiện quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể;
- Chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đối với nhãn hiệu chứng nhận vi phạm quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận hoặc không kiểm soát, kiểm soát không có hiệu quả việc thực hiện quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận;
- Các yếu tố địa lý tạo nên danh tiếng, chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý bị thay đổi làm mất danh tiếng, chất lượng, đặc tính của sản phẩm đó.

Trong trường hợp chủ sở hữu văn bằng bảo hộ sáng chế không nộp lệ phí duy trì hiệu lực trong thời hạn quy định, khi kết thúc thời hạn đó, hiệu lực văn bằng tự động chấm dứt tính từ ngày bắt đầu hiệu lực đầu tiên mà lệ phí duy trì hiệu lực không được nộp. Cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp sẽ ghi nhận việc chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ vào Sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp và công bố thông tin này trên Công báo sở hữu công nghiệp

 

3. Có vi phạm pháp luật đối với sản phẩm đã đăng ký quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu khi thực hiện hành vi đóng gói dán nhãn mới không?

Khi sản phẩm đã đăng ký quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu thực hiện hành vi đóng gói và dán nhãn mới, có vi phạm pháp luật hay không? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần tham khảo các quy định trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2019. Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2019, quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu được xác lập dựa trên việc cấp văn bằng bảo hộ từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thông qua thủ tục đăng ký quy định trong luật này hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo các điều ước mà Việt Nam là thành viên.

Tuy nhiên, quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký, mà được xác lập dựa trên việc sử dụng nhãn hiệu đó. Ngoài ra, theo Điều 130 của Luật Sở hữu trí tuệ 2005, hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm:
- Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hoá, dịch vụ;
- Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hoá, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng hoá, dịch vụ;
- Sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó mà Việt Nam cũng là thành viên, nếu người sử dụng là người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu và việc sử dụng đó không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu và không có lý do chính đáng;
- Đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng nhằm mục đích chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương ứng.

Các chỉ dẫn thương mại được định nghĩa như các dấu hiệu, thông tin nhằm hướng dẫn thương mại hàng hoá, dịch vụ, bao gồm nhãn hiệu, tên thương mại, biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng bao bì của hàng hoá, nhãn hàng hoá.Hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại bao gồm việc gắn chỉ dẫn thương mại lên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch kinh doanh, phương tiện quảng cáo; bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán, nhập khẩu hàng hoá có gắn chỉ dẫn thương mại đó. Từ các quy định trên, chúng ta có thể kết luận rằng việc đóng gói và dán nhãn mới cho sản phẩm đã đăng ký quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu cần tuân thủ quy định về sử dụng chỉ dẫn thương mại và không vi phạm các quyền sở hữu trí tuệ khác. Việc xác định vi phạm pháp luật trong trường hợp cụ thể này cần phải xem xét các yếu tố như việc sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn, vi phạm quyền sở hữu công nghiệp của người khác, và sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu.

Quý khách có thể tham khảo thêm bài viết sau của Luật Minh Khuê >>> Có được đưa nhãn hiệu, xuất xứ hàng hóa vào trong Hồ sơ mời thầu?

Trong trường hợp quý khách hàng có bất kỳ thắc mắc hay vướng mắc nào liên quan đến nội dung của bài viết hoặc các vấn đề pháp lý, chúng tôi xin trân trọng gửi đến quý khách hàng thông tin liên hệ để được hỗ trợ và giải quyết một cách nhanh chóng và kịp thời. Quý khách hàng có thể liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua số điện thoại hotline: 1900.6162 hoặc gửi email đến địa chỉ lienhe@luatminhkhue.vn. Đội ngũ nhân viên chúng tôi sẽ sẵn lòng lắng nghe và giải đáp mọi thắc mắc của quý khách hàng. Hãy liên hệ với chúng tôi ngay khi quý khách hàng cần sự hỗ trợ. Chúng tôi sẽ đáp ứng và giải quyết mọi yêu cầu và thắc mắc của quý khách hàng một cách nhanh chóng và chính xác.