1. Chức năng của tổ chức đại diện bên sử dụng lao động ?
- Chức năng của tổ chức đại diện NSDLĐ trước hết là bảo vệ doanh nghiệp và hình ảnh của doanh nghiệp, được thể hiện ở những nỗ lực của họ trong các đối thoại nhằm đạt được những điều kiện hợp lí nhất cho thành viên cũng như NLĐ; xây dựng và thực hiện các chính sách phát triển lực lượng lao động có năng suất, chất lượng cao... thông qua việc quan tâm đến NLĐ, chẳng hạn cung cấp đào tạo và phúc lợi hợp lí... tạo nên tình cảm tốt đẹp và sự gắn bó của NLĐ, qua đó giúp doanh nghiệp phòng ngừa và giải quyết hiệu quả các tranh chấp, tránh được các thiệt hại do tranh chấp gây ra, nâng cao uy tín, vị thế và sức hút của doanh nghiệp...
- Chức năng đại diện cho doanh nghiệp trong quan hệ lao động. Các tổ chức đại diện cho bên sử dụng lao động là nơi tập hợp ý chí và nguyện vọng của các doanh nghiệp thành viên khi tham gia thương lượng. Họ cũng đại diện cho thành viên tham gia xây dựng chính sách, pháp luật về quan hệ lao động. Khi thực hiện chức năng này, các tổ chức đại diện cho NSDLĐ sẽ được uỷ quyền quyết định trong khuôn khổ các vấn đề đã được thống nhất với thành viên.
- Ngoài ra, tổ chức đại diện cho NSDLĐ còn có chức năng cung cấp dịch vụ và hỗ trợ các thành viên. Chức năng này biểu hiện khá đa dạng trong đó bao gồm việc cung cấp dịch vụ về quan hệ lao động và quản trị nguồn nhân lực cho thành viên, hỗ trợ vốn, công nghệ, giúp kết nối với bạn hàng trong và ngoài nước, cung cấp các dịch vụ đào tạo, tư vấn...
2. Vai trò của tổ chức đại diện bên sử dụng lao động ?
Cũng tương tự các tổ chức đại diện bên lao động, các tổ chức đại diện của NSDLĐ có vai trò quan trọng trong việc đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích cho bên sử dụng lao động, xây dựng và thúc đẩy quan hệ lao động lành mạnh. Là người đại diện tham gia các hoạt động đối thoại xã hội hai bên, ba bên, các tổ chức đại diện bên sử dụng lao động đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa và giải quyết các xung đột trong quan hệ lao động, tạo điều kiện cho sự phát triển ổn định sản xuất, kinh doanh trong các ngành, nghề và doanh nghiệp. Bên cạnh đó họ cũng có vai trò quan trọng trong việc xúc tiến thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh.
3. Các tổ chức đại diện chủ yếu của bên sử dụng lao động
Ở Việt Nam hiện có hai tổ chức chính của người sử dụng lao động là Liên minh Hợp tác xã Việt Nam (VCA), Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI). Bên cạnh đó còn có thể kể đến Hiệp hội các Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam (VINASME) cùng khoảng trên 200 liên minh hoặc hiệp hội của các doanh nghiệp trong cả nước. Điều lưu ý là các tổ chức đại diện lớn nhất nêu trên chưa bao giờ tham gia vào thương lượng tập thể để xác lập các điều kiện lao động thông qua thỏa ước tập thể. Tuy nhiên, ở những mức độ khác nhau, chúng được trao quyền tham gia vào các hoạt động tham vấn ba bên được tổ chức ở tầm quốc gia và có nhiều hoạt động tích cực đại diện cho bên giới chủ Việt Nam.
* Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI), được hình thành từ năm 1963, là tổ chức tự nguyện của doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, có Điều lệ hoạt động riêng. Trước đây, tô chức tiền thân là cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam chưa được thừa nhận là đại diện giới chủ. Mục tiêu hoạt động ban đầu của tổ chức này là thúc đẩy giao thương kinh tế, thương mại với các nước trên thế giới. Năm 1993, sau Đại hội toàn quốc lần thứ 2, VCCI đã trở thành tổ chức độc lập phi chính phủ, tự chủ về tài chính. Năm 1994, vai trò đại diện NSDLĐ của VCCI được Chính phủ thừa nhận chính thức với Thông báo số 4228/KTTH ngày 02/8/1994 về việc Chính phủ quyết định giao cho Hội đồng Liên minh các hợp tác xã Việt Nam làm đầu mối theo dõi, báo cáo Chính phủ về những vấn đề liên quan đến NSDLĐ.
Năm 2000, Văn phòng Chính phủ ra Công văn số 1565/VPCP- QHQT ngày 24/4/2000 cử Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam và Liên minh Hợp tác xã Việt Nam là đồng đại diện cho NSDLĐ Việt Nam tham dự hội nghị quốc tế của Tổ chức Lao động quốc tế hằng năm. Văn bản này một lần nữa khẳng định vị thế đại diện bên sử dụng lao động của tổ chức này. Năm 2003, Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam sửa đổi Điều lệ và đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 123/QĐ- TTg, theo đó Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam bổ sung thêm chức năng mới là tổ chức đại diện để thúc đẩy và bảo vệ quyền lợi của NSDLĐ ở Việt Nam trong quan hệ lao động.
VCCI hiện là thành viên của tổ chức giới chủ thế giới IOE và Liên đoàn giới chủ châu Á Thái Bình Dương (CAPE).
VCCI có hệ thống thành viên khá tập trung ở một số ngành công nghiệp, bao gồm cả các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Tuy vậy, mạng lưới cơ sở của VCCI lại khá hẹp khi chỉ có mặt ở 9 tỉnh thành trong đó ở hai tỉnh (Khánh Hòa và Bình Thuận) mới có văn phòng đại diện?
Chức năng của VCCI, được ghi nhận trong Điều lệ của tổ chức là: Thứ nhất, đại diện để thúc đẩy và bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của cộng đồng doanh nghiệp và NSDLĐ ở Việt Nam trong các quan hệ trong nước và quốc tế; Thứ hai, thúc đẩy sự phát triển doanh nghiệp, doanh nhân, sự liên kết giữa các doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, xúc tiến và hỗ trợ các hoạt động thương mại, đầu tư, họp tác khoa học-công nghệ và các hoạt động kinh doanh khác của các doanh nghiệp ở Việt Nam và nước ngoài. Thứ ba, thực hiện chức năng đại diện của tổ chức đại diện NSDLĐ ở Việt Nam. Thông báo số 4228/KTTH ngày 02/8/1994; Nghị định số 145/2004/NĐ-CP ngày 14/7/2004 của Chính phù.
* Liên minh hợp tác xã Việt Nam (VCA) là tổ chức cấp quốc gia bao gồm các thành viên là doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hợp tác xã trong cả nước hoạt động vì mục tiêu đại diện và hỗ trợ cho các thành viên. Tổ chức tiền thân của VCA được hình thành năm 1955 nhưng phải đến cuối năm 1993 Điều lệ của Hội đồng Liên minh hợp tác xã Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ chuẩn y (theo Quyết định số 582-TTg/QĐ ngày 01/12/1993) và đến năm 1996, tại kì họp thứ 9 (Khoá IX) của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tên gọi của tổ chức đại diện và hỗ trợ cho các hợp tác xã mới được xác định là Liên minh Hợp tác xã Việt Nam.
Liên minh Hợp tác xã Việt Nam là tổ chức đại diện cho NSDLĐ có mạng lưới tổ chức rộng lớn nhất, được tổ chức ở trung ương và 63 tỉnh, thành phố trên cả nước, tới tận các xã, phường. Đặc biệt, ở nông thôn, ở các làng nghề, nơi mà vấn đề về quan hệ lao động còn ít được quan tâm thì tổ chức này được xem là gần gũi nhất với NLĐ. Trong quan hệ ba bên, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam là tổ chức đầu tiên được công nhận là tổ chức đại diện cho NSDLĐ ở Việt Nam.
Liên minh Hợp tác xã Việt Nam có các chức năng: Thứ nhất, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên; Thứ hai, tuyên truyền, vận động phát triển hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã; Thứ ba, hỗ trợ và cung cấp các dịch vụ cần thiết cho sự hình thành và phát triển của các cơ sở hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và thành viên; Thứ tư, tham gia xây dựng chính sách, pháp luật có liên quan. Thứ năm, đại diện cho các thành viên trong quan hệ hoạt động phối hợp với các tổ chức trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật.
Trong quan hệ quốc tế, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam hiện cũng là thành viên của Liên đoàn giới chủ châu Á Thái Bình Dương (CAPE).
Với Nghị định số 145/2004/NĐ-CP ngày 14/7/2004 của Chính phủ, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam cùng Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam đã được công nhận là đồng đại diện cho NSDLĐ ở Việt Nam (Điều 1).
* Hiệp hội các Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME), là tổ chức xã hội-nghề nghiệp cấp quốc gia, một trong những tổ chức hội đoàn của doanh nghiệp có ảnh hưởng khá lớn tại Việt Nam. VINASME được thành lập năm 2005, sau hơn 6 năm đi vào hoạt động Hiệp hội đã có 32.000 doanh nghiệp hội viên và 70 thành viên; trong đó, 52 thành viên là các hiệp hội doanh nghiệp tỉnh, thành phố. về tổ chức, ngoài Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, các ban chuyên môn VINASME còn có 3 văn phòng đại diện ở miền Trung, Tây Nguyên, miền Nam, 1 tạp chí, 1 viện nghiên cứu, 8 trung tâm hỗ trợ hoạt động của doanh nghiệp; 4 chi nhánh hoạt động ở nước ngoài tại Cộng hòa Séc, Cộng hòa Liên bang Đức, Cộng hòa Ba Lan, Cộng hòa Ucraina. Điều lệ sửa đổi của Hiệp hội đã được Bộ Nội vụ phê duyệt theo Quyết định số 1927/QĐ-BNV ngày 30/11/2011.
Hiệp hội có nhiều chức năng như: tham gia xây dựng chính sách, pháp luật, thực hiện chức năng đại diện và bảo vệ quyền lợi chính đáng của hội viên; hỗ trợ doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế; tuyên truyền, quảng bá về cộng đồng doanh nhân, doanh nghiệp và Hiệp hội trong xã hội...
VỊ thế của Hiệp hội đã dần được ghi nhận bằng việc Nhà nước cho phép Hiệp hội tham gia với tư cách là một trong các tổ chức đại diện cho NSDLĐ tầm quốc gia được hỏi ý kiến trong các tham vấn ba bên cấp trung ương như tại ủy ban Quan hệ lao động (theo Điều 3 Quyết định số 68/2007/QĐ-Ttg ngày 17/5/2007.) và Hội đồng Tiền lương quốc gia (theo Điều 5 Quyết định số 49/2013/QĐ-Ttg ngày 14/5/2013).
4. Quyền và trách nhiệm của tổ chức đại diện bên sử dụng lao động
Hiện nay vẫn chưa có văn bản dành riêng cho đại diện bên người sử dụng lao động tương tự như phía công đoàn, chỉ có một điều luật trong BLLĐ năm 2019 quy định: “Tổ chức đại diện người sử dụng lao động là tổ chức được thành lập hợp pháp, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động trong quan hệ lao động” (khoản 4 Điều 3). Do vậy, quyền và trách nhiệm của tổ chức đại diện bên sử dụng lao động Việt Nam sẽ được xác định dựa vào các văn bản về lập hội, các văn bản pháp luật lao động và các văn bản trực tiếp điều chỉnh các mối quan hệ chúng tham gia. Trong số các văn bản đó, quan trọng nhất phải kể đến sắc lệnh số 102/SL/L004 ngày 20/5/1957 ban hành Luật quy định quyền lập hội; Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 quy định về tổ chức, hoạt động và quản lí hội, BLLĐ năm 2012, Luật Công đoàn năm 2012 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành; Nghị định số 145/2004/NĐ-CP ngày 14/7/2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành BLLĐ về việc Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam và đại diện NSDLĐ tham gia với cơ quan nhà nước về chính sách pháp luật và những vấn đề liên quan đến quan hệ lao động; Quyết định số 68/2007/QĐ-TTg về việc thành lập Uỷ ban Quan hệ lao động; Quyết định số 1055/QĐ-Ttg thành lập Hội đồng Tiền lương quốc gia...
Nhìn chung, tổ chức đại diện bên sử dụng lao động có các quyền cơ bản của các hội, hiệp hội... như quyền tổ chức, hoạt động theo điều lệ đã được phê duyệt; đại diện cho hội viên trong mối quan hệ đối nội, đối ngoại có liên quan; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội, hội viên phù hợp với tôn chỉ, mục đích của hội; tổ chức, phối hợp hoạt động giữa các hội viên; hoà giải tranh chấp trong nội bộ hội; phổ biến, huấn luyện kiến thức; cung cấp thông tin cần thiết cho hội viên theo quy định của pháp luật; tham gia chương trình, dự án, đề tài nghiên cứu, tư vấn, phản biện và giám định xã hội theo đề nghị của cơ quan nhà nước; cung cấp dịch vụ công về các vấn đề thuộc lĩnh vực hoạt động của hội, tổ chức dạy nghề, truyền nghề, đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức các hoạt động dịch vụ khác theo quy định của pháp luật; thành lập pháp nhân thuộc hội theo quy định của pháp luật; tham gia ý kiến vảo các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan; phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan để thực hiện nhiệm vụ của hộỉ; được gây quỹ hội, được nhận các nguồn tài trợ hợp pháp, được nhà nước hỗ trợ kinh phí đối với những hoạt động gắn vói nhiệm vụ của nhà nước giao; được gia nhập các tổ chức quốc tế tương ứng và kí kết, thực hiện thoả thuận quốc tế theo quy định của pháp luật… theo Điều 23 Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 quy định về tổ chức, hoạt động và quản lí hội.
Tổ chức đại diện người sử dụng lao động cũng có các nghĩa vụ chung của các tổ chức xã hội nghề nghiệp như chấp hành các quy định của pháp luật có liên quan; chịu sự quản lí nhà nước của cơ quan quản lí nhà nước, thực hiện chế độ báo cáo theo quy định; chấp hành sự hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra của các cơ quan nhà nước cố thẩm quyền; lập và lưu giữ sổ sách, chứng từ, sử dụng kinh phí theo quy định của pháp luật. Theo Điều 24 Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010
Tổ chức đại diện người sử dụng lao động có thể được hưởng quyền, nghĩa vụ của hội có tính chất đặc thù như: được tham gia xây dựng các cơ chế, chính sách liên quan; tham gia thực hiện một số hoạt động quản lí nhà nước, dịch vụ công theo quy định của pháp luật; tư vấn, phản biện và giám định xã hội các chính sách, chương trình, đề tài, dự án do cơ quan nhà nước yêu cầu về các vấn đề thuộc Imh vực hoạt động của hội...; có thể được cấp, hỗ trợ kinh phí hoạt động, cơ sở vật chất và phương tiện hoạt động; được khuyến khích, tạo điều kiện tham gia thực hiện một số hoạt động quản lí nhà nước, thực hiện tư vấn, phản biện và giám định xã hội; thực hiện các chương trình, đề tài, dự án liên quan...Điều 34, Điều 35 Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010.
Ngoài ra, từng tổ chức đại diện bên sử dụng lao động cụ thể có quyền và trách nhiệm tham gia và phôi hợp với nhà nước, công đoàn để thực hiện chính sách, pháp luật lao động và giải quyết các vấn đề liên quan tới quan hệ lao động; chỉ đạo các hiệp hội doanh nghiệp, các doanh nghiệp thành viên phối hợp với các bên liên quan tổ chức thực hiện pháp luật lao động và giải quyết các vấn đề phát sinh trong quan hệ lao động... Cuối cùng, quyền và nghĩa vụ của các tổ chức đại diện bên sử dụng lao động cũng được hiểu gián tiếp thông qua việc giải thích các quyền, nghĩa vụ của công đoàn và của người lao động.
5. Một số vấn đề cần bàn về tổ chức đại diện của người lao động
Một trong những nội dung quan trọng của pháp luật lao động là quy định về trình tự, thủ tục và hoạt động của đại diện người lao động. Các quy định này một mặt nhằm thể hiện sự ghi nhận của Nhà nước về khuôn khổ pháp lý cho sự ra đời hợp pháp của tổ chức đại diện. Mặt khác, đây cũng được coi là công cụ để nhà nước kiểm soát, thể hiện ý chí của mình. Các quy định của Bộ luật lao động năm 2019 về tổ chức, hoạt động của tổ chức đại diện người lao động gồm:
- Quy định về thành lập, gia nhập tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp
- Quy định về ban lãnh đạo và thành viên tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp
- Quy định về điều lệ tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp.
Hơn nữa quy định liên quan đến đảm bảo hoạt động của tổ chức đại diện người lao động. Bộ luật lao động năm 2019 ghi nhận các nội dung chủ yếu sau: Các hành vi bị nghiêm cấm đối với người sử dụng lao động liên quan đến thành lập, gia nhập và hoạt động của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở; Quyền của thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở; Nghĩa vụ của người sử dụng lao động đối với tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở; Quyền và nghĩa vụ của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở trong quan hệ lao động.
Trong quan hệ lao động cá nhân, người lao động thường yếu thế hơn người sử dụng lao động. Để đảm bảo quyền, lợi ích tốt hơn trong đàm phán, những người lao động cùng chung lợi ích có xu hướng liên kết với nhau. Tổ chức của người lao động được hình thành (thường được gọi là công đoàn) nhằm thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích của tập thể lao động trong quan hệ lao động.
Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực lao động, công đoàn Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài.
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê