1. Trách nhiệm của người sử dụng lao động được quy định như thế nào?
Trách nhiệm của người sử dụng được quy định trong Bộ luật Lao động năm 2019 bao gồm trách nhiệm ở các lĩnh vực, vấn đề khác nhau. Đối với các vấn đề này rất cần sự chung tay đóng góp của người sử dụng lao động để có thể đảm bảo lợi ích lâu dài của các chủ thể và cũng chính là lợi ích của người sử dụng lao động. Do vậy, người sử dụng lao động nếu thuộc phạm vi trách nhiệm của mình thì phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
Về vấn đề việc làm và giải quyết việc làm: Người sử dụng lao động có trách nhiệm tham gia cùng Nhà nước và toàn xã hội để giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm và cũng để bảo đảm nguồn nhân lực lâu dài, chất lượng cao cho chính doanh nghiệp (người sử dụng lao động).
Về trách nhiệm quản lý lao động thì người sử dụng lao động có các trách nhiệm lập, cập nhật, quản lý, sử dụng sổ quản lý lao động bằng bản giấy hoặc bản điện tử và xuất trình khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu. Khai trình việc sử dụng lao động trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày bắt đầu hoạt động, định kỳ báo cáo tình hình thay đổi về lao động trong quá trình hoạt động với cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và thông báo cho cơ quan bảo hiểm xã hội.
Trách nhiệm chi trả các chế độ trợ cấp thôi việc và khi chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động. Cụ thể người sử dụng lao động sẽ có trách nhiệm chi trả tiền trợ cấp thôi việc cho người sử dụng lao động nếu họ đủ điều kiện theo quy định của pháp luật và cũng phải có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản tiền khi chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động. Hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trả lại cùng với bản chính giấy tờ khác nếu người sử dụng lao động đã giữ của người lao động. Cung cấp bản sao các tài liệu liên quan đến quá trình làm việc của người lao động nếu người lao động có yêu cầu.
Trách nhiệm của người sử dụng lao động về đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề thì người sử dụng lao động xây dựng kế hoạch hằng năm và dành kinh phí cho việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề, phát triển kỹ năng nghề cho người lao động đang làm việc cho mình; đào tạo cho người lao động trước khi chuyển làm nghề khác cho mình. Hằng năm người sử dụng lao động thông báo kết quả đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Người sử dụng lao động cũng có trách nhiệm bảo đảm về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với người lao động theo đúng quy định của pháp luật. Thực hiện đầy đủ các giải pháp nhằm bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc.
2. Chính sách bảo đảm bình đẳng giới trong pháp luật lao động được quy định như thế nào?
Về phía cơ quan Nhà nước thì việc thực hiện chính sách bảo đảm bình đẳng giới như sau:
- Chính sách của Nhà nước là bảo đảm quyền bình đẳng của lao động nữ, lao động nam, thực hiện các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới và phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Trong đó khuyến khích người sử dụng lao động tạo điều kiện để lao động nữ, lao động nam có việc làm thường xuyên, áp dụng rộng rãi chế độ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt, làm việc không trọn thời gian, giao việc làm tại nhà.
- Có biện pháp tạo việc làm, cải thiện điều kiện lao động, nâng cao trình độ nghề nghiệp, chăm sóc sức khỏe, tăng cường phúc lợi về vật chất và tinh thần của lao động nữ nhằm giúp lao động nữ phát huy có hiệu quả năng lực nghề nghiệp, kết hợp hài hòa cuộc sống lao động và cuộc sống gia đình.
- Có chính sách giảm thuế đối với người sử dụng lao động có sử dụng nhiều lao động nữ theo quy định của pháp luật về thuế. Nhà nước có kế hoạch, biện pháp tổ chức nhà trẻ, lớp mẫu giáo ở nơi có nhiều lao động. Mở rộng nhiều loại hình đào tạo thuận lợi cho lao động nữ có thêm nghề dự phòng và phù hợp với đặc điểm về cơ thể, sinh lý và chức năng làm mẹ của phụ nữ.
Về phía trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc thực hiện bình đẳng giới là:
- Bảo đảm thực hiện bình đẳng giới và các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong tuyển dụng, bố trí, sắp xếp việc làm, đào tạo, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương và các chế độ khác.
- Tham khảo ý kiến của lao động nữ hoặc đại diện của họ khi quyết định những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của phụ nữ.
- Bảo đảm có đủ buồng tắm và buồng vệ sinh phù hợp tại nơi làm việc.
- Giúp đỡ, hỗ trợ xây dựng nhà trẻ, lớp mẫu giáo hoặc một phần cho phí gửi trẻ, mấu giáo cho người lao động.
Về chính sách riêng đối với lao động nữ và bình đẳng giới thì pháp luật cũng có các quy định để bảo vệ thai sản và quyền đơn phương chấm dứt, tạm hoãn hợp đồng của lao động nữ mang thai cũng như giới hạn nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản và nuôi con.
3. Doanh nghiệp có bắt buộc phải hỗ trợ chi phí gửi trẻ tại các trường mẫu giáo cho người lao động không?
Như đã trao đổi ở trên thì theo quy định tại khoản 4 Điều 136 của Bộ luật Lao động năm 2019 thì trách nhiệm của người sử dụng lao động là giúp đỡ, hỗ trợ xây dựng nhà trẻ, lớp mẫu giáo hoặc một phần chi phí giữ trẻ, mẫu giáo cho người lao động.
Và căn cứ theo Điều 82 của Nghị định 145/2020/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 14 tháng 12 năm 2020 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của bộ luật lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động có quy định về việc giúp đỡ, hỗ trợ của người sử dụng lao động về chi phí gửi trẻ, mẫu giáo cho người lao động thì sẽ căn cứ điều kiện cụ thể, người sử dụng lao động sẽ xây dựng phương án, kế hoạch giúp đỡ, hỗ trợ một phần chi phí gửi trẻ tại nhà trẻ, lớp mẫu giáo đối với người lao động có con trong độ tuổi giữ trẻ, mẫu giáo bằng tiền hoặc hiện vật. Người sử dụng lao động quyết định mức và thời gian hỗ trợ sau khi trao đổi, thảo luận với bên người lao động thông qua đối thoại tại nơi làm việc theo quy định của pháp luật.
Như vậy theo quy định của pháp luật thì người sử dụng lao động sẽ có trách nhiệm hỗ trợ chi phí gửi trẻ tại các trường mẫu giáo cho người lao động. Mức hỗ trợ và thời gian hỗ trợ sẽ thống nhất thông qua đối thoại với người lao động. Nếu doanh nghiệp chưa hỗ trợ chi phí gửi trẻ cho người lao động thì người lao động có thể yêu cầu người sử dụng lao động tổ chức buổi đối thoại tại nơi làm việc để giải quyết vấn đề này. Do đó quy định của pháp luật vẫn chưa rõ ràng về mức hỗ trợ và thời gian hỗ trợ gửi trẻ tại các trường mẫu giáo cho người lao động nên tùy thuộc vào tình hình thực tế của doanh nghiệp để xây dựng phương án, kế hoạch hỗ trợ phù hợp đảm bảo theo đúng tinh thần của quy định pháp luật, đáp ứng được nhu cầu doanh nghiệp, quyền và lợi ích chính đáng của người lao động.
Về phía cơ quan nhà nước thì ngày 08 tháng 9 năm 2020 Chính phủ có ban hành Nghị định số 105/2020/NĐ-CP Quy định chính sách phát triển giáo dục mầm non trong đó có quy định về chính sách trợ cấp đối với trẻ em mầm non là con công nhân, người lao động làm việc tại khu công nghiệp sẽ được xem xét hỗ trợ tối thiểu 160.000 đồng/trẻ/tháng áp dụng trong thời gian số tháng học thực tế nhưng không quá 9 tháng/năm học. Mức hỗ trợ cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng phù hợp với khả năng ngân sách của địa phương, trình Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định.
Quý khách hàng có thể tham khảo thêm bài viết có chủ đề tương tự tại địa chỉ: Người lao động nghỉ ngang trái pháp luật chịu hậu quả thế nào?
Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi, mọi thắc mắc quý khách hàng xin vui lòng liên hệ số Hotline 19006126 hoặc địa chỉ email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp. Xin chân thành cảm ơn!