1. Lao động phi chính thức là gì?

Người lao động phi chính thức là người lao động làm việc nhưng không ký kết hợp đồng lao động và không có sự ràng buộc giữa người sử dụng lao động và người lao động. 

Lao động phi chính thức thường có đặc điểm là việc làm bấp bênh và thiếu ổn định, thu nhập thấp và thời gian làm việc dài. Họ thường không có hợp đồng lao động hoặc có nhưng không được đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, không được chi trả các chế độ phụ cấp và các khoản phúc lợi xã hội khác. Những người lao động này thường luẩn quẩn trong đói nghèo, hạn chế về năng lực, kiến thức và điều kiện kinh tế, do đó không có nhiều cơ hội để hòa nhập xã hội.

Do vậy, việc nghiên cứu khu vực kinh tế phi chính thức cũng như việc làm phi chính thức ở Việt Nam là cần thiết, nhất là trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào kinh tế thế giới nói chung và sự hội nhập của Thống kê Việt Nam vào Thống kê quốc tế nói riêng. Thực tế cho thấy đang tồn tại sự chuyển đổi giữa tính chính thức và phi chính thức của lao động trong các khu vực kinh tế. Vì vậy, cần có các thống kê chính thức về sự chuyển đổi này, từ đó đưa ra những khuyến nghị về chính sách nhằm thúc đẩy và khuyến khích sự chính thức hóa trong khu vực phi chính thức.

 

2. Hình thức việc làm phi chính thức

2.1. Việc làm trong các hộ kinh doanh gia đình hay hộ kinh doanh cá thể

Theo  quy định của luật doanh nghiệp thì hộ kinh doanh có quy mô nhỏ dưới 10 nhân công, bao gồm cả hộ kinh doanh sản xuất nông nghiệp Vườn-Ao-Chuồng (VAC), phải thực hiện thủ tục đăng ký thành lập hộ kinh doanh hay đăng ký kinh doanh hộ gia đình theo quy định tại Nghị định 01/2021/NĐ-CP và phải đảm bảo quyền lợi của người lao động theo quy định pháp luật như ký hợp đồng lao động, đảm bảo mức lương tối thiểu, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp,….nhưng trong thực tế việc làm của NLĐ không được đảm bảo một phần hoặc không đảm bảo toàn bộ các quy định theo pháp luật lao động.

2.2. Việc làm giúp việc gia đình

Việc làm giúp việc gia đình (hay còn gọi là việc làm chăm sóc được trả lương), có quan hệ lao động rõ ràng giữa NLĐ (người giúp việc) và NSDLĐ (chủ nhà), nhưng không ký hợp đồng lao động, chủ nhà không đảm bảo các quy định của pháp luật lao động liên quan tới mức lương tối thiểu, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp... cho NLĐ và NLĐ có thể bị mất việc bất cứ lúc nào.

2.3. Lao động trên nền mạng

Lao động trên nền mạng là một loại việc làm phi chính thức. Công nghệ kết nối trên Internet đưa đến những loại hình công việc mà NLĐ và các công ty dữ liệu không ký kết với nhau hợp đồng lao động, thay vào đó là các hợp đồng hợp tác kinh doanh và không ràng buộc về quan hệ lao động. Điều này có nghĩa là hai bên không bị ràng buộc nhau theo luật lao động và NLĐ không được hưởng các bảo vệ về quyền lợi theo quy định của pháp luật lao động như lương tối thiểu, an toàn vệ sinh lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế…

Việc làm trên nền mạng là việc làm xuất hiện trong nền kinh tế chia sẻ. Kinh tế chia sẻ (sharing economy) là mô hình kinh doanh mới và có xu hướng phát triển, đặc biệt trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Kinh tế chia sẻ đang tác động tới mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, làm thay đổi cơ bản tính chất công ăn việc làm của người lao động, đòi hỏi phải có sự thay đổi tư duy về việc làm, quan hệ lao động và thị trường lao động, cũng như thay đổi nội dung và phương pháp hoạt động của tổ chức công đoàn trong việc đại diện và bảo vệ quyền lợi của người lao động. Hiện nay, tỷ lệ người lao động tham gia loại hình việc làm này có xu hướng gia tăng, và mở rộng trong các lĩnh vực ngành nghề khác nhau như giao thông, vận tải, thương mại điện tử, dịch vụ lưu trú, du lịch,.... Rất nhiều loại công việc hiện đang được thực hiện thông qua kết nối Internet như: lái xe công nghệ, nhân viên bán hàng trên mạng, nhân viên vận chuyển/chuyển phát dựa trên nền tảng, nhân viên “nhấp chuột”  cung cấp các dịch vụ cho các công ty như: trả lời dịch lời các đoạn video ngắn, thực hiện khảo sát trên mạng, tìm kiếm ảnh, xử lý nội dung, sàng lọc dữ liệu hay tạo ra các “like” cho các trang facebook theo yêu cầu... nhà cung ứng, nhà thầu (biến tướng quan hệ lao động thành quan hệ hợp tác kinh doanh), chẳng hạn, những người làm việc cho các công ty công nghệ dưới dạng nhà cung ứng, nhà thầu hay những người làm việc cho công ty nhưng do công ty trung gian cung ứng lao động tuyển dụng, những người mua sắm hộ đi khắp các gian hàng tạp hoá và thực phẩm, mua đồ và chuyển tới tận nhà cho khách hàng theo yêu cầu, và rất nhiều người lao động khác làm việc dựa trên các nền tảng số chưa được nghiên cứu.

Ngoài ra, kinh tế chia sẻ có xu hướng tạo ra sự liên kết ngành nghề như vận tải - thương mại (mô hình kết hợp vận tải hành khách - hàng hóa), du lịch - bất động sản (mô hình kết hợp căn hộ - khách sạn), hay du dịch - y tế... Điều này có nghĩa là miêu tả công việc của người lao động tham gia kinh tế chia sẻ cũng có sự thay đổi, không chỉ làm việc với một chủ doanh nghiệp mà có thể với nhiều chủ doanh nghiệp cùng một lúc. Đây là vấn đề mới đặt ra với người lao động trong quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động, và cũng là vấn đề mới đối với Công đoàn Việt Nam trong việc đại diện và bảo vệ người lao động.

2.4. Cho thuê lại lao động

Dịch vụ cho thuê lao động đã xuất hiện ở Việt Nam từ đầu những năm 2000, điển hình ở các địa phương thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương. Một số doanh nghiệp (có giấy phép hoạt động giới thiệu việc làm) ký hợp đồng lao động với người lao động, sau đó cho các doanh nghiệp sản xuất sử dụng nhiều lao động thuê lại người lao động đó trên cơ sở “hợp đồng cung ứng lao động” hay “hợp đồng dịch vụ lao động”. Hai xu hướng hoạt động nổi lên là: cho thuê lao động có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao và cho thuê lao động phổ thông, đặc biệt là các dịch vụ vệ sinh, bảo vệ, dọn dẹp, lắp ráp, đóng gói…. Trong đó, dịch vụ cho thuê lao động phổ thông theo thời vụ hoặc hình thức tương tự là phổ biến hơn.

2.5. Việc làm khu vực phi chính thức

Việc làm khu vực phi chính thức là việc làm không có quan hệ lao động, là việc làm của những người lao động tự do, tự tạo việc làm và tự kiếm sống, ví dụ: những người thu gom rác tự do, những người bán hàng rong, những thợ xây dựng nhỏ mang tính cá thể tự do, những người lao động bốc xếp mang tính cá thể tự do, làm cửu vạn, lái xe ôm tự do, chở hàng tự do... Việc làm khu vực phi chính thức, đúng như tên gọi, vốn đã phi chính thức bởi sự yếu thế của NLĐ làm việc trong khu vực này. Những người làm việc tự do này luôn bị đối mặt với rủi ro bị tước đi thu nhập của họ như bị cảnh sát đuổi, giữ hàng, phạt vi phạm giao thông, vỉa hè, lề đường...

Theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2019, cho thuê lại lao động được quy định tại Khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Lao động liên quan tới việc cấp phép hoạt động cho thuê lại lao động. Theo quy định, mục đích cho thuê lại lao động chỉ là để đáp ứng tạm thời sự gia tăng đột ngột về nhu cầu sử dụng lao động trong khoảng thời gian nhất định; thay thế người lao động trong thời gian nghỉ thai sản, bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc phải thực hiện các nghĩa vụ công dân; có nhu cầu sử dụng lao động trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Việc cho thuê lại lao động được thực hiện đối với công việc thuộc danh mục và đảm bảo đúng mục đích cho thuê lại. Như vậy, pháp luật quy định không được sử dụng lao động cho thuê lại cho các công việc có nhu cầu lâu dài. Tuy nhiên, trong thực tiễn, việc làm có nhu cầu lâu dài vẫn sử dụng lao động thuê lại, và như vậy, trong trường hợp này, việc làm của NLĐ bị phi chính thức hóa.

Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của Luật Minh Khuê về vấn đề trên. Nếu có bất kỳ vướng mắc nào xin vui lòng liên hệ tới Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại 1900.6162 để được hỗ trợ. Xin trân trọng cảm ơn!