1. Đăng ký biện pháp đảm bảo là gì?

Theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 102/20117/NĐ-CP:

"Đăng ký biện pháp bảo đảm là việc cơ quan đăng ký ghi vào sổ đăng ký hoặc nhập vào cơ sở dữ liệu về việc bên bảo đảm dùng tài sản đbảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận bảo đm."

2. Khi nào thì phải đăng ký biện pháp đảm bảo?

Theo Điều 298 Bộ luật dân sự 2015:

Điều 298. Đăng ký biện pháp bảo đảm

1. Biện pháp bảo đảm được đăng ký theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật.

Việc đăng ký là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực chỉ trong trường hợp luật có quy định.

2. Trường hợp được đăng ký thì biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký.

3. Việc đăng ký biện pháp bảo đảm được thực hiện theo quy định của pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm.

Đăng ký biện pháp bảo đảm có ý nghĩa quan trọng trong việc công khai, minh bạch hóa thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản, gắn liền với quyền dân sự của mỗi cá nhân, tổ chức khi xác lập, thực hiện quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản. Tùy theo từng loại hình tài sản bảo đảm, chủ thể cung cấp dịch vụ công về đăng ký giao dịch bảo đảm có thể là Văn phòng đăng ký đất đai (nếu tài sản Tảo đảm là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất), Cục Hàng không Việt Nam (nếu tài sản bảo đảm là tàu bay), Cơ quan đăng ký tàu biển Việt Nam (nếu tài sản bảo đảm là tàu biển), Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp (nếu tài sản bảo đảm là các động sản khác, không phải tàu bay, tàu biển) - Theo Điều 9 Nghị định 102/2017/NĐ-CP.

Theo Điều 298 nêu trên thì:

- Có hai nguyên tắc đăng ký biện pháp bảo đảm, đó là: đăng ký tự nguyện (đăng ký theo yêu cầu của các bên) và đăng ký bắt buộc (theo quy-định của luật). Lưu ý, việc đăng ký biện pháp bảo đảm chỉ mang tính bắt buộc trong trường hợp luật có quy định.

- Về giá trị pháp lý của việc đăng ký biện pháp bảo đảm:

Tùy từng loại hình tài sản bảo đảm, việc đăng ký biện pháp bảo đảm có giá trị pháp lý khác nhau. Cụ thể là:

+ Việc đăng ký biện pháp bảo đảm là phương thức làm phát sinh hiệu lực đối kháng đối với người thứ ba của biện pháp bảo đảm. Hay nói cách khác, biện pháp bảo đảm được đăng ký có hiệu lực đối kháng với bên thứ ba kể từ thời điểm đăng ký (khoản 2 Điều 298 Bộ luật dân sự 2015)

+ Việc đăng ký biện pháp bảo đảm là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực, nghĩa là, đăng ký biện pháp bảo đảm là điều kiện làm phát sinh hiệu lực của giao dịch bảo đảm, hay nói cách khác đăng ký biện pháp bảo đảm là điều kiện để làm phát sinh quyền đổi với tài sản bảo đảm của bên nhận bảo đảm.

- Về hệ quả pháp lý của đăng ký biện pháp bảo đảm:

Việc đăng ký biện pháp bảo đảm làm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba chứ không phải làm cho giao dịch bảo đảm có giá trị pháp lý đối với người thứ ba. Vì mọi cam kết, thỏa thuận dân sự, bao gồm cả thỏa thuận về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hợp pháp đều có giá trị pháp lý đối với người thứ ba và phải được tất cả các chủ thể khác tôn trọng (khoản 2 Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2015), không phụ thuộc vào việc cam kết, thỏa thuận đó được hay không được đăng ký. Việc đăng ký trong trường hợp này chỉ có ý nghĩa là phương thức pháp lý công bố công khai quyền được bảo đảm bàng tài sản của bên nhận bảo đảm, để đối kháng với người thứ ba trong trường hợp có nhiều lợi ích được thiết lập lên một tài sản.

3. Hiệu lực đối kháng với người thứ ba là gì?

Hiệu lực đổi kháng với người thứ ba là căn cứ pháp lý xác định quyền truy đòi tài sản bảo đảm và quyền được thanh toán của bên nhận bảo đảm trong trường hợp nhiều người cùng có quyền đối với tài sản bảo đảm.

Theo Điều 297 Bộ luật dân sự 2015:

Điều 297. Hiệu lực đối kháng với người thứ ba

1. Biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba từ khi đăng ký biện pháp bảo đảm hoặc bên nhận bảo đảm nắm giữ hoặc chiếm giữ tài sản bảo đảm.

2. Khi biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì bên nhận bảo đảm được quyền truy đòi tài sản bảo đảm và được quyền thanh toán theo quy định tại Điều 308 của Bộ luật này và luật khác có liên quan.

Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về hai phương thức làm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba của biện pháp bảo đảm, đó là đăng ký và nắm giữ hoặc chiếm giữ tài sản (trong quan hệ cầm giữ). Tùy từng biện pháp bảo đảm và loại hình tài sản bảo đảm (là động sản hay bất động sản), Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về phương thức làm phát sinh hiệu lực đối kháng khác nhau. Đối với thế chấp, cầm cố bất động sản, bảo lưu quyền sở hữu, thì phương thức làm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba là đăng ký, còn đối với cầm cố, cầm giữ thì phương thức làm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba là nắm giữ (hoặc chiếm giữ tài sản).

Khi biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng mà tài sản do người thứ ba đang chiếm hữu thì bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu người thứ ba giao lại tài sản để xử lý. Trường hợp bên bảo đảm chuyển quyền sở hữu cho người thứ ba thông qua các hợp đồng mua bán, trao đổi, vay tài sản mà không có sự đồng ý của bên nhận bảo đảm, thì bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng và nhận lại tài sản để xử lý.

4. Các trường hợp bắt buộc phải đăng ký đảm bảo

Theo Điều 4 Nghị định 102/2017/NĐ-CP có quy định các biện pháp sau đây phải đăng ký:

1. Các biện pháp bảo đảm sau đây phải đăng ký:

a) Thế chấp quyền sử dụng đất;

b) Thế chấp tài sản gắn liền với đất trong trường hợp tài sản đó đã được chứng nhận quyền sở hữu trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

c) Cầm cố tàu bay, thế chấp tàu bay;

d) Thế chấp tàu biển.

2. Các biện pháp bảo đảm sau đây được đăng ký khi có yêu cầu:

a) Thế chấp tài sản là động sản khác;

b) Thế chấp tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai;

c) Bảo lưu quyền sở hữu trong trường hợp mua bán tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai; mua bán tàu bay, tàu biển; mua bán tài sản là động sản khác có bảo lưu quyền sở hữu.

Như vậy, có 4 trường hợp biện pháp đảm bảo bắt buộc phải phải đăng ký.

Theo khoản 3 Điều 188 Luật đất đai 2013 có quy định:

Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.

Điều 28, 29 Luật hàng không dân dụng Việt Nam năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014:

Điều 28. Các quyền đối với tàu bay

1. Các quyền đối với tàu bay bao gồm:

a) Quyền sở hữu tàu bay;

b) Quyền chiếm hữu tàu bay bằng việc thuê mua, thuê có thời hạn từ sáu tháng trở lên;

c) Thế chấp, cầm cố tàu bay;

.....

Điều 29. Đăng ký các quyền đối với tàu bay

1. Tổ chức, cá nhân Việt Nam có các quyền đối với tàu bay quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật này phải đăng ký các quyền đó theo quy định của Chính phủ.

2. Người đề nghị đăng ký các quyền đối với tàu bay phải nộp lệ phí.

3. Các vấn đề liên quan đến các quyền đã đăng ký của cùng một tàu bay phải được ghi trong Sổ đăng bạ tàu bay Việt Nam.

Việc đăng ký các quyền đối với tàu bay quy định tại khoản 1 Điều này có hiệu lực từ thời điểm được cơ quan đăng ký ghi vào Sổ đăng bạ tàu bay Việt Nam.

Hay trong Bộ luật hàng hải 2015 cũng có quy định:

Điều 39. Đăng ký thế chấp tàu biển Việt Nam

1. Đăng ký thế chấp tàu biển Việt Nam có nội dung cơ bản sau đây:

a) Tên, nơi đặt trụ sở của người nhận thế chấp và chủ tàu;

b) Tên và quốc tịch của tàu biển được thế chấp;

c) Số tiền được bảo đảm bằng thế chấp, lãi suất và thời hạn phải trả nợ.

2. Việc thế chấp tàu biển có hiệu lực sau khi được ghi trong Sổ đăng ký tàu biển quốc gia Việt Nam.

....

5. Thủ tục đăng ký biện pháp đảm bảo

- Cơ quan có thẩm quyền đăng ký biện pháp đảm bảo: Theo Điều 9 Nghị định 102/2017/NĐ-CP:

+ Cục Hàng không Việt Nam thực hiện đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng tàu bay.

+ Cục Hàng hải Việt Nam hoặc Chi cục hàng hải, Cảng vụ hàng hải thực hiện đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng tàu biển.

+ Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai và Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất.

+ Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp thực hiện đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng động sản và các tài sản khác.

- Người yêu cầu đăng ký biện pháp đảm bảo có thể nộp hồ sơ thông qua các phương thức sau:

Qua hệ thống đăng ký trực tuyến;

Nộp trực tiếp;

Qua đường bưu điện;

Qua thư điện tử trong trường hợp người yêu cầu đăng ký đã được cấp mã số sử dụng cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm.

- Tiếp nhân hồ sơ: sau khi nhận hồ sơ, người tiếp nhận kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký. Nếu nộp trực tiếp thì trường hợp hồ sơ đăng ký hợp lệ, người tiếp nhận vào Sổ tiếp nhận, cấp cho người yêu cầu đăng ký Phiếu hẹn trả kết quả. Nếu nộp qua đường bưu điện hoặc qua thư điện tử, thì sau khi nhận được hồ sơ, người tiếp nhận kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký.

Trường hợp hồ sơ đăng ký không hợp lệ, người tiếp nhận hướng dẫn để người yêu cầu hoàn thiện hồ sơ hoặc lập văn bản hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ theo quy định của pháp luật.

- Cơ quan đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm có trách nhiệm giải quyết hồ sơ đăng ký, cung cấp thông tin trong ngày nhận hồ sơ hợp lệ; nếu nhận hồ sơ sau 15 giờ, thì hoàn thành việc đăng ký, cung cấp thông tin ngay trong ngày làm việc tiếp theo; trường hợp phải kéo dài thời gian giải quyết hồ sơ, thì cũng không quá 03 ngày làm việc.

- Kết quả đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm được cơ quan đăng ký trả cho người yêu cầu đăng ký theo một trong các phương thức sau đây:

- Trực tiếp tại cơ quan đăng ký.

- Qua đường bưu điện;

- Phương thức khác do cơ quan đăng ký và người yêu cầu đăng ký thỏa thuận.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua Email : Tư vấn pháp luật qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Trân trọng./.