1. Con cái mang họ cha hay mẹ khi chưa đăng ký kết hôn ?
Căn cứ theo Điều 9 Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định khi yêu cầu đăng ký khai sinh cho con nếu bố mẹ đã kết hôn thì phải nộp kèm giấy đăng ký kết hôn. Nếu chưa đăng ký kết hôn thì trẻ sẽ được khai sinh theo diện chưa xác định được cha.
Theo đó, tại Điều 15 Nghị định 123/2015/NĐ-CP, khi đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha thì họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của con sẽ theo mẹ, phần ghi về cha trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh sẽ để trống.
Nếu hai bạn chưa đăng ký kết hôn mà muốn con mang họ cha thì bạn phải làm đồng thời thủ tục nhận con và thủ tục đăng ký khai sinh. Ngoài những giấy tờ cần phải nộp khi làm giấy khai sinh cho con theo quy định của pháp luật, bạn còn phải nộp thêm các loại giấy tờ sau:
-Tờ khai đăng ký nhận cha, mẹ
- Giấy tờ chứng minh quan hệ cha con
Như vậy, khi hai người không đăng ký kết hôn mà có con thì con có thể mang họ mẹ hoặc cha.
Thông thường, khi cha mẹ chưa đăng ký kết hôn thì con sẽ mang họ của mẹ, thông tin về người cha sẽ để trống. Tuy nhiên, nếu người cha làm thủ tục nhận con cùng thời điểm đăng ký khai sinh thì Uỷ ban nhân dân sẽ kết hợp cả hai thủ tục nêu trên.
Theo đó, họ của con sẽ theo cha hoặc mẹ căn cứ vào thoả thuận của cha, mẹ. Bởi vậy, nếu cha mẹ chưa kết hôn nhưng có thoả thuận con mang họ cha thì khi thực hiện đồng thời hai thủ tục nhận cha con và đăng ký khai sinh, đứa trẻ hoàn toàn có quyền được mang theo họ của người cha.
2. Có bắt buộc phải đăng ký khai sinh cho con theo họ cha không?
Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị định 123/2015/NĐ-CP có quy định về xác định nội dung đăng ký khai sinh, khai tử như sau:
- Nội dung khai sinh được xác định theo quy định tại Khoản 1 Điều 14 của Luật Hộ tịch 2014 và quy định sau đây:
+ Họ, chữ đệm, tên và dân tộc của trẻ em được xác định theo thỏa thuận của cha, mẹ theo quy định của pháp luật dân sự và được thể hiện trong Tờ khai đăng ký khai sinh; trường hợp cha, mẹ không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được, thì xác định theo tập quán;
+ Quốc tịch của trẻ em được xác định theo quy định của pháp luật về quốc tịch;
+ Số định danh cá nhân của người được đăng ký khai sinh được cấp khi đăng ký khai sinh. Thủ tục cấp số định danh cá nhân được thực hiện theo quy định của Luật Căn cước công dân 2014 và Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Căn cước công dân 2014, trên cơ sở bảo đảm đồng bộ với Luật Hộ tịch 2014 và Nghị định này;
+ Ngày, tháng, năm sinh được xác định theo Dương lịch. Nơi sinh, giới tính của trẻ em được xác định theo Giấy chứng sinh do cơ sở y tế có thẩm quyền cấp; trường hợp không có Giấy chứng sinh thì xác định theo giấy tờ thay Giấy chứng sinh theo quy định tại Khoản 1 Điều 16 của Luật Hộ tịch.
Đối với trẻ em sinh tại cơ sở y tế thì nơi sinh phải ghi rõ tên của cơ sở y tế và tên đơn vị hành chính cấp xã, huyện, tỉnh nơi có cơ sở y tế đó; trường hợp trẻ em sinh ngoài cơ sở y tế thì ghi rõ tên đơn vị hành chính cấp xã, huyện, tỉnh nơi trẻ em sinh ra.
+ Quê quán của người được đăng ký khai sinh được xác định theo quy định tại Khoản 8 Điều 4 của Luật Hộ tịch 2014
Như vậy, việc đăng ký khai sinh cho con không bắt buộc phải mang họ cha. Cả cha và mẹ có thể thỏa thuận với nhau về việc đăng ký khai sinh cho con theo họ mẹ. Tuy nhiên, trường hợp cha, mẹ không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được, thì xác định theo tập quán.
3. Một số quy định hiện hành về đặt họ và tên theo tập quán
Trong Bộ luật dân sự năm 2015, tập quán được hiểu là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng để xác định quyền, nghĩa vụ của cá nhân, pháp nhân trong quan hệ dân sự cụ thể, được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong một vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân cư hoặc trong một lĩnh vực dân sự”.
Về vấn đề áp dụng tập quán, Điều 5 Bộ luật dân sự năm 2015: “Trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định thì có thể áp dụng tập quán nhưng tập quán áp dụng không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này”. Việc xác định họ và tên của cá nhân áp dụng tập quán cũng dựa trên nguyên tắc cơ bản này.
Theo đó, việc xác định họ và tên của cá nhân được áp dụng theo tập quán nếu cha và mẹ không có thỏa thuận. Theo khảo sát trong sách “Các dân tộc ở Việt Nam- cách dùng Họ và đặt tên” thì tại Việt Nam có những tập quán xác định họ, tên mà không nhất thiết phải theo họ cha hoặc họ mẹ, ví dụ như: Tập quán đặt tên nhiều lần trong đời trong các dân tộc Mông, Dao, Mường. Trong đó, người H'Mông thường đặt tên lần đầu khi trẻ đầy tuổi, gia đình làm lễ đội tên, tên của trẻ là đệm của bố; lễ đặt tên lần thứ hai "Tì bê lầu" diễn ra khi người con trai cưới vợi, lúc này bố mẹ vợ nhận lễ vật và đặt tên đệm mới cho con rể. Việc đặt tên lại còn diễn ra có khi đến 3-4 tên, khi gặp đau ốm hoặc rủi ro, tai nạn thì lại làm lễ đặt tên lại.
Tập quán là một công cụ thiết yếu nhằm duy trì những nét văn hóa đặc trưng của các dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam. Việc gìn giữ và phát huy những nét đẹp truyền thống của các dân tộc anh em trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đã được ghi nhận trong các quan điểm về tập quán pháp trong Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020. Và để đưa những quan điểm chỉ đạo của Đảng trong Nghị quyết số 48-NQ/TW thể chế hóa thành pháp luật và đi vào thực tiễn đời sống thì vai trò của công tác kiểm tra, giám sát việc áp dụng tập quán pháp là vô cùng quan trọng.
Qua những phân tích nêu trên, có thể thấy, Bộ luật dân sự năm 2015 và các văn bản pháp luật chuyên ngành đã khắc phục được nhiều hạn chế trong việc xác định họ và tên của cá nhân so với các văn bản pháp luật trước đây. Tuy nhiên, pháp luật dường như can thiệp quá sâu vào quyền nhân thân của cá nhân khi quy định việc xác định họ và tên dẫn đến trường hợp kể cả cha mẹ đồng thuận xác định con theo tập quán họ thứ ba, tuy nhiên thỏa thuận này là trái với pháp luật và dẫn tới thỏa thuận vô hiệu.
Do đó, trước hết cần thay đổi quan điểm về tập quán trong lý luận pháp luật ở Việt Nam hiện nay, đặc biệt phải làm rõ mối quan hệ giữa tập quán và các quy định pháp luật, bởi khi quy định của pháp luật không cho phép các chủ thể lựa chọn tập quán sẽ gây tác động tiêu cực đến tâm lý của bộ phận người dân đối với Đảng và nhà nước. Đồng thời, muốn cho các quy định của pháp luật đi vào đời sống hay được sự thừa nhận của người dân thì việc xây dựng chúng cần dựa trên những chính sách pháp luật cân đối tối đa các lợi ích của mọi người mà phần nào đó thể hiện dưới dạng đồng thuận xã hội. Từ đó đẩy lùi các mâu thuẫn giữa tập quán và quy định pháp luật như vấn đề đang nảy sinh trong việc đặt họ, tên cho cá nhân.
Xem thêm: Cách khai sinh cho con theo họ cha khi chưa đăng ký kết hôn?
Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Có bắt buộc phải đăng ký khai sinh cho con theo họ cha không? mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.
Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!