- 1. Cơ cấu thị trường xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam giai đoạn năm 2008 - 2018
- a. Về xuất khẩu
- b. Về nhập khẩu
- 2. Bình luận cơ cấu thị trường xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam
- 3. Sự mất cân bằng trong kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam với thị trường ngoài nước
- 4. Kim ngạch thương mại hàng hóa hai chiều giữa Việt Nam và Nga giai đoạn 2010-2015
- 5. Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam nửa năm đầu năm 2020
1. Cơ cấu thị trường xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam giai đoạn năm 2008 - 2018
- Cơ cấu thị trường xuất, nhập khẩu của Việt Nam trong 10 năm qua nhìn chung không có biến động lớn. Thị trường xuất, nhập khẩu tập trung chủ yếu vẫn là các nước EU, ASEAN, Hoa Kỳ, Nhật, Hàn Quốc, úc, Trung Quốc.
a. Về xuất khẩu
Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với tỷ trọng chiếm 19,4% kim ngạch xuất khẩu, giảm nhẹ so với mức 20,0% năm 2008. Trung Quốc xếp thứ hai với tỷ trọng chiếm 17,1%, đây là thị trường có mức tăng trưởng xuất khẩu mạnh nhất trong cơ cấu xuất khẩu theo thị trường của Việt Nam với mức tăng bình quân khoảng 5%. Xuất khẩu sang Hàn Quốc cũng tăng mạnh từ 2,6% năm 2008 lên 7,5% năm 2018. Thị trường sụt giảm xuất khẩu lớn nhất là ASEAN, năm 2008, ASEAN chiếm 16,5% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, đến năm 2018 giảm còn 10,1%. Thị trường Nhật cũng giảm tỷ trọng trong cơ cấu xuất khẩu, từ 12,8% năm 2008 xuống 7,8% năm 2018.
b. Về nhập khẩu
Đối tác nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam là Trung Quốc với tỷ trọng 27,7% trong tổng kim ngạch nhập khẩu, tăng so với mức 20,3% năm 2008. Tiếp đó là Hàn Quốc, kim ngạch nhập khẩu hàng hoá chiếm 20,2%, tăng so với mức 8,5% năm 2008. Đây là hai thị trường có mức tăng mạnh nhất về kim ngạch nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam, chủ yếu do tình trạng nhập khẩu nguyên liệu đầu vào cho sản xuất phục vụ các dự án đầu tư của Trung Quốc và Hàn Quốc tại Việt Nam. ASEAN là thị trường sụt giảm nhiều nhất trong cơ cấu nhập khẩu của Việt Nam, từ 25,1% năm 2008 giảm còn 13,5% năm 2018.
2. Bình luận cơ cấu thị trường xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam
Có thể thấy, trong các đối tác xuất, nhập khẩu của Việt Nam, thay đổi lớn nhất là sự gia tăng tỷ trọng kim ngạch từ thị trường Trung Quốc và Hàn Quốc và sự sụt giảm về kim ngạch đối với thị trường ASEAN. Các đối tác xuất nhập khẩu chính của Việt Nam hầu hết là các quốc gia đã ký FTA với Việt Nam, tuy nhiên, một số nước đã ký và thực thi cam kết FTA với Việt Nam nhưng giá trị thương mại song phương chưa có sự đột phá hay chưa có nhiều thay đổi (ví dụ các quốc gia trong Liên minh kinh tế Á - Âu).
Nhìn chung, kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam giai đoạn 2008 - 2018 luôn đạt mức tăng trưởng trên 2 con số. Kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam đã tăng gần 4 lần với tốc độ tăng trưởng bình quân 14,33%/năm trong cả giai đoạn. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu tăng hơn 4 lần, tăng trưởng bình quân 15,99%/năm trong cả giai đoạn. Tăng trưởng xuất khẩu có đóng góp lớn vào tăng trưởng GDP, tạo công ăn việc làm, tiêu thụ hàng hoá cho sản xuất trong nước, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và nông dân.
Đồng thời, tăng trưởng xuất khẩu, tiến tới cân bằng trong cán cân thương mại và xuất siêu cũng giúp giảm bớt thâm hụt cán cân thanh toán, nâng cao dự trữ ngoại hối, ổn định tỷ giá và ổn định kinh tế vĩ mô. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu được chuyển dịch theo đúng định hướng tại Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hoá thời kỳ 2011-2020, định hướng đến năm 2030. Kim ngạch nhập khẩu tăng gần 3,5 làn với tốc độ tăng trưởng bình quân 10,09%/năm trong cả giai đoạn. Nhập khẩu tăng cao nhưng tập trung chủ yếu ở nhóm hàng hoá thiết yếu, gồm máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất, xuất khẩu và các dự án đầu tư trong lĩnh vực năng lượng.
3. Sự mất cân bằng trong kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam với thị trường ngoài nước
Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu và cơ cấu thị trường xuất khẩu mặc dù dựa trên lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của quốc gia, đồng thời đáp ứng được nhu cầu của thị trường ngoài nước, nhưng cũng bộc lộ nhiều đặc điểm rất đáng lưu ý. Đó là, sự mất cân bằng trong kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam với một số đối tác, bạn hàng lớn, có thể dẫn đến xung đột thương mại do quá mất cân bằng về lợi ích giữa hai bên.
Ví dụ: Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam và Việt Nam xuất siêu khá lớn vào thị trường này, điều này cũng đồng nghĩa với việc cán cân thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ luôn thặng dư về phía Việt Nam. Trong khi đó, Trung Quốc lại là bạn hàng số 1 trong nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam và Việt Nam nhập siêu rất lớn từ thị trường này, do vậy, tình trạng thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam chủ yếu là từ thị trường Trung Quốc.
Bên cạnh đó, nếu Việt Nam tập trung xuất khẩu số lượng lớn một số loại hàng hoá nào đó mà thị trường nhập khẩu có sự bảo hộ cao đối với ngành sản xuất hàng hoá này trong nước. Ví dụ như hàng nông sản, thuỷ sản chế biến, dệt may, da giày... cũng rất dễ bị nước nhập khẩu áp dụng các biện pháp phòng vệ (chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ) đối với hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam.
Trên thực tế, hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam đã từng gặp những khó khăn và trở ngại này. Nhưng theo chiều ngược lại, mặc dù là nước có độ mở nền kinh tế lớn, nhập khẩu và nhập siêu kéo dài và trầm trọng, nhưng Việt Nam chưa chú ý và chưa đủ năng lực áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại trong thương mại quốc tế cho đến những năm gần đây.
4. Kim ngạch thương mại hàng hóa hai chiều giữa Việt Nam và Nga giai đoạn 2010-2015
- Theo https://www.customs.gov.vn, về kim ngạch xuất nhập khẩu, thương mại hàng hóa hai chiều giữa Việt Nam và Nga trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2015 có dấu hiệu chững lại, với tốc độ tăng trưởng chỉ đạt khoảng 3,6%/năm.
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Nga trong giai đoạn 2010-2015 đạt bình quân 2,29 tỷ USD/năm, với tốc độ tăng trưởng chỉ đạt 3,6%/năm, con số này chưa xứng tầm với tiềm năng của cả hai bên.
- Cụ thể, năm 2010, kim ngạch buôn bán hàng hóa hai chiều Việt Nam –Nga đạt 1,83 tỷ USD và năm 2011 đạt 1,98 tỷ USD, tăng 8,3% so với năm trước.
Bước sang năm 2012, giao thương hàng hóa giữa hai nước đạt được sự tăng trưởng cao nhất trong cả giai đoạn, với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 2,45 tỷ USD, tăng 23% so với năm 2011.
Năm 2013, thương mại hàng hóa giữa hai nước vẫn đạt được sự tăng trưởng dương nhưng tốc độ tăng trưởng thấp hơn năm 2012, chỉ tăng 12,6%, với kim ngạch đạt 2,76 tỷ USD.
Năm 2014 và năm 2015 là hai năm gặp khó khăn của nhiều mặt hàng xuất khẩu, nhập khẩu chủ lực nên kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam – Nga bị suy giảm, không đạt được tốc độ tăng trưởng dương. Về xuất khẩu, khó khăn ở các nhóm mặt hàng: máy vi tính, sản phẩm điện tử, điện thoại & linh kiện; hàng dệt may; giày dép các loại.
Ở chiều ngược lại, nhập khẩu các nhóm hàng xăng dầu các loại, sắt thép các loại, máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng đều bị suy giảm. Như vậy, tính chung tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2014 là 2,55 tỷ USD, giảm 7,6% so với một năm trước đó. Năm 2015, giá dầu thô trên thị trường thế giới giảm mạnh làm cho kim ngạch buôn bán 2 chiều giữa Việt Nam và Nga tiếp tục giảm sâu, giảm 14,2% so với năm 2014 và chỉ đạt 2,18 tỷ USD.
Trong nhiều năm qua, Việt Nam nhập khẩu các hàng hóa có xuất xứ từ Nga chủ yếu là những mặt hàng nhập khẩu thiết yếu, nguyên phụ liệu đầu vào phục vụ sản xuất trong nước như: xăng dầu các loại; sắt thép các loại; phân bón các loại; máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng; sản phẩm từ dầu mỏ; quặng và khoáng sản;...
5. Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam nửa năm đầu năm 2020
Theo haiquanonline.com.vn, tổng cục Thống kê vào vài năm gần đây dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp trên thế giới, đặc biệt tại các nước đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam đã ảnh hưởng lớn đến kim ngạch xuất, nhập khẩu của nhiều mặt hàng.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2020, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 238,4 tỷ USD, giảm 2,1% so với cùng kỳ năm trước đó.
Trong đó, 6 tháng đầu năm 2020, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 121,21 tỷ USD, giảm1,1% so với cùng kỳ năm trước. Theo đó, xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước đạt 41,38 tỷ USD, tăng 11,7%, chiếm 34,1% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 79,83 tỷ USD, giảm 6,7%, chiếm 65,9%.
Trong 6 tháng đầu năm Việt Nam có 22 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 86,2% tổng kim ngạch xuất khẩu. Đặc biệt, có 4 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 52,7% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Trong đó điện thoại và linh kiện có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất, đạt 21,5 tỷ USD, chiếm 17,7% tổng kim ngạch xuất khẩu, giảm 8,4% so với cùng kỳ năm trước.
Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 19,3 tỷ USD, tăng 24,2%; hàng dệt may đạt 12,8 tỷ USD, giảm 15,5%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 10,3 tỷ USD, tăng 25,2%...
Nhìn chung, tỷ trọng xuất khẩu của một số mặt hàng chủ lực vẫn thuộc về khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong đó, điện thoại và linh kiện chiếm 91,7%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm 70,4%; giày dép chiếm 77,8%; hàng dệt may 58%.
“Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng nông sản 6 tháng đầu năm nay giảm so với cùng kỳ năm trước”, Tổng cục Thống kê cho biết.
Về thị trường hàng hóa xuất khẩu, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 30,3 tỷ USD, tăng 10,3% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp đến là Trung Quốc, thị trường EU, thị trường ASEAN...
Ở chiều xuất khẩu, trong 6 tháng, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 117,17 tỷ USD, giảm3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 51,55 tỷ USD, tăng 0,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 65,62 tỷ USD, giảm 5,4%.
Trong 6 tháng đầu năm 2020 Việt Nam cũng có 22 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 81,2% tổng kim ngạch nhập khẩu.
Về thị trường hàng hóa nhập khẩu 6 tháng, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 34,8 tỷ USD, giảm 2,2% so với cùng kỳ năm trước.
Về cơ cấu hàng hóa nhập khẩu 6 tháng đầu năm, nhóm hàng tư liệu sản xuất ước tính đạt 109,5 tỷ USD, giảm 2,8% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 93,5% tổng kim ngạch hàng hóa nhập khẩu.
Đáng chú ý, Tổng cục Thống kê cho biết, tỷ giá thương mại hàng hóa bình quân 6 tháng đầu năm 2020 giảm 0,78% so với cùng kỳ năm 2019 phản ánh giá xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam ra nước ngoài không thuận lợi so với giá nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài về Việt Nam.
Trân trọng!