1. Khái niệm thương mại điện tử
Thương mại điện tử (TMĐT) đã xuất hiện từ lâu nhưng cho đến nay trên thế giới vẫn tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về TMĐT. Nghiên cứu một số khái niệm TMĐT được định nghĩa bởi các tổ chức uy tín thế giới là Uỷ ban Luật Thương mại quốc tế của Liên Hợp Quốc (UNCITRAL), WTO và OECD có thể thấy hiện nay có hai cách tiếp cận về TMĐT:
- Theo cách tiếp cận hẹp, TMĐT được hiểu là một phương thức thực hiện các hoạt động thương mại thông qua các phương tiện thông tin liên lạc điện tử như điện thoại, telex, fax, hệ thống thanh toán và chuyển tiền điện tử, internet v.v…; ví dụ như mua bán hàng hoá qua mạng internet, cung ứng các dịch vụ qua các phương tiện viễn thông, quảng cáo trên phương tiện điện tử,… Đây là cách tiếp cận của UNCITRAL và WTO.
- Theo cách tiếp cận rộng hơn, TMĐT không chỉ giới hạn ở các hoạt động thương mại mà bao gồm tất cả các giao dịch mua hoặc bán hàng hoá, dịch vụ trực tuyến; việc thanh toán và giao hàng có thể được tiến hành trực tuyến hoặc ngoại tuyến. Đây là cách tiếp cận của OECD. Trong cách tiếp cận này, OECD lại đưa ra hai định nghĩa rộng và hẹp về giao dịch TMĐT: (i) theo định nghĩa rộng, giao dịch TMĐT là hoạt động mua, bán hàng hóa hoặc dịch vụ giữa các doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân, chính phủ và các tổ chức hoặc cá nhân khác, được thực hiện qua các mạng máy tính trung gian (ứng dụng internet, trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) hoặc hệ thống điện thoại tương tác; (ii) theo định nghĩa hẹp thì giao dịch TMĐT là hoạt động mua, bán hàng hóa hoặc dịch vụ giữa các doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân, chính phủ và các tổ chức hoặc cá nhân khác, được thực hiện qua mạng internet.
2. Tiếp cận của ASEAN về thương mại điện tử
Nhờ có internet, người tiêu dùng Đông Nam Á đã có thể tiếp cận và thực hiện các giao dịch điện tử từ những năm 1990 với giao dịch chủ yếu là các đơn hàng được đặt mua từ Mỹ và châu Âu. Thấy rằng các phương tiện điện tử mới giúp hoạt động thương mại trở nên nhanh hơn, hiệu quả hơn, các nước thành viên ASEAN bắt đầu từ hợp tác khu vực trong công nghệ - thông tin và truyền thông (CNTT-TT) bằng việc ký kết Hiệp định khung e-ASEAN năm 2000. Chuyển sang giai đoạn xây dựng Cộng đồng ASEAN từ năm 2003, trong Bản kế hoạch tổng thể xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC Blueprint) 2003-2015, lần đầu tiên ASEAN đề cập đến TMĐT là các giao dịch trực tuyến hàng hoá trên mạng, chưa đề cập đến các hoạt động thương mại khác được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử.[4] Năm 2015, khi ghi nhận mục tiêu hợp tác về phát triển TMĐT cho giai đoạn mới 2015-2025, ASEAN đã dẫn chiếu định nghĩa hẹp về TMĐT của OECD trong Bản kế hoạch tổng thể xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN 2015-2025. Như vậy, trong hợp tác về phát triển TMĐT giai đoạn hiện nay, ASEAN tiếp cận TMĐT là các giao dịch mua, bán hàng hoá và dịch vụ thông qua mạng internet.
3. Nội dung hợp tác ASEAN về phát triển thương mại điện tử
Xác định internet và công nghệ thông tin là điều kiện tiên quyết của TMĐT, Hiệp định khung e-ASEAN 2000 đã xác lập các thoả thuận về thiết lập cơ sở hạ tầng thông tin ASEAN, tạo lập một thị trường chung cho hàng hóa và dịch vụ CNTT-TT, đồng thời bước đầu đặt ra nghĩ vụ cho mỗi quốc gia thành viên phát triển cơ sở hạ tầng pháp lý quốc gia về TMĐT. Mục tiêu chính của Hiệp định khung e-ASEAN 2000 là xây dựng một môi trường TMĐT thân thiện và đáng tin cậy trong khu vực thông qua việc các quốc gia thành viên sẽ thừa nhận các chuẩn mực quốc tế hiện hành về TMĐT như công nhận lẫn nhau về chữ ký số, giao dịch điện tử, thanh toán điện tử, các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ phát sinh từ TMĐT, bảo vệ dữ liệu cá nhân và quyền riêng tư của người tiêu dùng, giải quyết tranh chấp trong giao dịch trực tuyến.
Để thực hiện những mục tiêu được ghi nhận trong Hiệp định khung e-ASEAN, ASEAN đã thành lập Nhóm đặc trách về TMĐT và các nhóm làm việc kỹ thuật có nhiệm vụ chính là giám sát pháp luật TMĐT về giao dịch điện tử, chữ ký điện tử, bảo vệ người tiêu dùng, giải quyết tranh chấp trực tuyến, bảo vệ dữ liệu cá nhân và quyền riêng tư. Năm 2001, Nhóm đặc trách về TMĐT đã xây dựng Khung tham chiếu ASEAN về cơ sở hạ tầng pháp lý cho TMĐT làm tài liệu tham khảo chung để xây dựng pháp luật TMĐT cho các quốc gia thành viên trong khu vực trên cơ sở tham khảo luật TMĐT của các quốc gia thành viên trong khối; ý kiến của các chuyên gia pháp lý; Luật mẫu về Thương mại điện tử của UNCITRAL và các luật về TMĐT, chữ ký điện tử của một số quốc gia có thị trường TMĐT phát triển lâu đời như Luật Thương mại điện tử và chữ ký điện tử của bang Utah, bang Illinois - Hoa kỳ, Luật Thương mại điện tử của Cộng hoà Liên bang Đức.
Từ năm 2003, cùng với kế hoạch hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), hợp tác ASEAN về phát triển TMĐT tiếp tục được đưa ra trong Bản kế hoạch tổng thể xây dựng AEC 2015 và Bản kế hoạch tổng thể xây dựng AEC 2025. Trong giai đoạn xây dựng AEC từ 2003-2015, các nước thành viên ASEAN tiếp tục ưu tiên vấn đề ban hành luật TMĐT tại tất cả các quốc gia thành viên và hướng tới hài hoà hoá pháp luật về hợp đồng điện tử, giải quyết tranh chấp trong TMĐT, công nhận lẫn nhau về chữ ký số bởi luật TMĐT của các quốc gia thành viên ASEAN vẫn có những quy định khác nhau. Bước sang giai đoạn 2015-2025, TMĐT được xác định là một trong bốn trụ cột nội dung của AEC, là một trong những yếu tố để tăng cường kết nối và hợp tác chuyên ngành, ASEAN tiếp tục tăng cường hợp tác TMĐT để đi đến ký kết hiệp định chung đầu tiên trong lĩnh vực TMĐT. Bên cạnh việc tập trung vào xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý về TMĐT quốc gia, ASEAN tiếp tục đưa ra các sáng kiến bổ sung về phát triển CNTT-TT, logistics, kết nối thủ tục hải quan, tiêu chuẩn hoá đơn để hoàn thiện cơ sở hạ tầng cho sự phát triển của TMĐT trong khu vực như Kế hoạch tổng thể về CNTT-TT của ASEAN (AIM) 2015 và AIM 2020, Lộ trình hội nhập ngành logistics ASEAN (RILS)…
Ngày 12 tháng 11 năm 2019, tại Hà Nội, các Bộ trưởng kinh tế ASEAN đã ký kết Hiệp định ASEAN về Thương mại điện tử 2019. Tính đến nay, đã có 5 quốc gia phê chuẩn Hiệp định này là Campuchia, Myanmar, Singapore, Thái Lan, Việt Nam.
Hiệp định bao gồm các thoả thuận về phạm vi hợp tác phát triển TMĐT; nguyên tắc hợp tác; nghĩa vụ của các nước thành viên trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia về TMĐT; hạ tầng dịch vụ hỗ trợ cho TMĐT là an ninh mạng, thanh toán điện tử, logistics nhằm tạo thuận lợi cho giao dịch trực tuyến hàng hoá và dịch vụ qua mạng internet, tạo dựng môi trường TMĐT đáng tin cậy trong khu vực, thúc đẩy sử dụng TMĐT góp phần tăng trưởng kinh tế và thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN. Hiệp định cũng quy định ngoại lệ là các nghĩa vụ trong Hiệp định sẽ không áp dụng cho mua sắm công.
Hiệp định xác định nghĩa vụ hợp tác về TMĐT của các nước thành viên sẽ thực hiện trong các lĩnh vực sau: cơ sở hạ tầng CNTT-TT; giáo dục và công nghệ; bảo vệ người tiêu dùng trực tuyến; khung pháp lý TMĐT; bảo mật giao dịch điện tử, bao gồm bảo vệ thông tin cá nhân trực tuyến; giao dịch điện tử và thanh toán điện tử; thuận lợi hóa thương mại, quyền sở hữu trí tuệ; cạnh tranh; an ninh mạng; logistics để thuận lợi hoá TMĐT.
Triển khai các hoạt động hợp tác về phát triển TMĐT, các nước thành viên có nghĩa vụ tuân thủ các nguyên tắc được đề ra trong Hiệp định. Các quốc gia thành viên phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế. Mặc dù không trực tiếp đề cập song có thể hiểu các luật mẫu, quy ước… mà Hiệp định nhắc tới là Luật mẫu của UNCITRAL về TMĐT năm 1996, Luật mẫu của UNCITRAL về Chữ ký điện tử năm 2001, Công ước Liên Hợp Quốc về Sử dụng phương tiện điện tử trong hợp đồng quốc tế. Trong quản lý nhà nước về TMĐT, quốc gia thành viên cần tuân thủ nguyên tắc trung lập về công nghệ (technology neutrality). Theo nguyên tắc này, chính phủ các nước cần coi trọng quyền tự do của các cá nhân và tổ chức trong việc lựa chọn công nghệ phù hợp với nhu cầu và yêu cầu để sử dụng, thương mại hoá hoặc phát triển; các quy định pháp luật quốc gia chỉ được phép đưa ra các yêu cầu cơ bản về chức năng mà công nghệ cần phải có để làm cho thông tin điện tử có giá trị pháp lý tương đương thông tin trên giấy chứ không được ủng hộ hay thiên vị một công nghệ cụ thể nào bởi điều này có thể làm cản trở sự hình thành, phát triển của các công nghệ tốt hơn trong tương lai. Hiệp định yêu cầu các quốc gia thành viên khuyến khích sử dụng phương thức giải quyết tranh chấp thay thế để giải quyết các tranh chấp trong TMĐT. Bên cạnh nghĩa vụ hoàn thiện hệ thống pháp luật TMĐT quốc gia, để đạt được mục tiêu tạo thuận lợi cho TMĐT xuyên biên giới, quốc gia thành viên thừa nhận sự cần thiết của liên kết chính sách và quy định pháp luật về TMĐT giữa các nước thành viên.
Thiết lập nghĩa vụ cho các nước thành viên trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia về TMĐT, Hiệp định nhấn mạnh các yêu cầu về quản lý các giao dịch không giấy tờ, chữ ký điện tử, bảo vệ người tiêu dùng trực tuyến, lưu chuyển thông tin phục vụ hoạt động kinh doanh bằng phương tiện điện tử qua biên giới, bảo vệ thông tin cá nhân trực tuyến. Theo đó, các quốc gia thành viên có nghĩa vụ sử dụng phiên bản điện tử của chứng từ hải quan và tạo điều kiện thuận lợi cho trao đổi tài liệu điện tử trong quản lý về hải quan với các nước thành viên khác; công nhận tính hợp pháp của chứng thực điện tử và chữ ký điện tử; duy trì hoặc thông qua các biện pháp xác thực điện tử dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế; bảo vệ người tiêu dùng trực tuyến tương tự như bảo vệ người tiêu dùng trong các hình thức thương mại khác, trong đó phải áp dụng và duy trì các biện pháp bảo vệ người tiêu dùng minh bạch và hiệu quả; cắt giảm hoặc xoá bỏ các rào cản đối với thông tin xuyên biên giới, bao gồm cả thông tin cá nhân; áp dụng và duy trì các biện pháp bảo vệ thông tin cá nhân trực tuyến của người dùng trong TMĐT; không yêu cầu pháp nhân của các quốc gia thành viên và các công ty liên kết của pháp nhân đó phải đặt hệ thống máy chủ trên lãnh thổ của mình như điều kiện để tiến hành hoạt động kinh doanh tại lãnh thổ của mình (ngoại trừ các dịch vụ tài chính và nhà cung cấp dịch vụ tài chính theo Phụ lục về Dịch vụ tài chính của GATS).
Hiệp định thừa nhận tầm quan trọng của hạ tầng dịch vụ hỗ trợ cho TMĐT, Hiệp định đưa ra yêu cầu về đảm bảo an ninh mạng, bảo mật hệ thống thanh toán và logistics xuyên biên giới hiệu quả. Trong đó, các nước thành viên có nghĩa vụ nâng cao khả năng đảm bảo an ninh mạng và hợp tác với nhau về các vấn đề liên quan đến an ninh mạng; đảm bảo hệ thống thanh toán điện tử bảo mật, an toàn, hiệu quả; nỗ lực giảm chi phí, cải thiện tốc độ và độ tin cậy của các chuỗi cung ứng dịch vụ logistics.
Có thể thấy rằng, trong hợp tác phát triển TMĐT khu vực từ năm 2000 đến nay, ASEAN tập trung vào vấn đề xây dựng, hoàn thiện và hài hoà hoá pháp luật của các quốc gia về TMĐT và giải quyết tranh chấp trực tuyến; phát triển hạ tầng phụ trợ cho TMĐT là an ninh mạng, thanh toán điện tử, logistics nhằm phát triển TMĐT trong nước và tạo thuận lợi cho giao dịch mua, bán hàng hoá và dịch vụ giữa các quốc gia thành viên thông qua mạng internet. Những vấn đề này đã được các quốc gia thành viên ASEAN thoả thuận và ghi nhận trong Hiệp định Thương mại điện tử ASEAN 2019. Việc phê chuẩn Hiệp định này sẽ đặt ra các nghĩa vụ mà các quốc gia thành viên phải tuân thủ khi ban hành, áp dụng các biện pháp có tác động tới hoạt động mua bán hàng hoá, dịch vụ bằng các phương tiện điện tử.
Xét về bản chất, ASEAN là tổ chức quốc tế liên chính phủ, các hoạt động hợp tác của ASEAN được xây dựng và thực hiện trên cơ sở sự thoả thuận giữa các quốc gia thành viên theo nguyên tắc tham vấn, đồng thuận (Điều 20 Hiến chương ASEAN 2007) – cơ chế này hình thành nên các điều ước quốc tế, được gọi là pháp luật ASEAN. Pháp luật ASEAN sau khi xây dựng sẽ được thực thi theo cơ chế cộng đồng và cơ chế quốc gia. Cơ chế quốc gia thực chất là quá trình thực thi các cam kết ở của các nước thành viên, tức là mỗi quốc gia thông qua những cơ quan có thẩm quyền do pháp luật quốc gia quy định để thực hiện những nội dung theo các quy định của ASEAN. Còn ở cơ chế khu vực, việc thực thi pháp luật Cộng đồng ASEAN được thực hiện thông các hoạt động chức năng theo nhiệm vụ của các thiết chế trong ASEAN. Các thiết chế này có nhiệm vụ điều phối quá trình hợp tác và theo dõi việc thực hiện các thoả thuận của các nước thành viên. Trong quá trình thực thi pháp luật ASEAN, nguyên tắc quan trọng nhất mà quốc phải tuân thủ là tận tâm thiện chí thực hiện cam kết quốc tế. Ngoài ra, xuất phát từ đặc thù của ASEAN là sự chênh lệch khoảng cách trong phát triển kinh tế giữa các thành viên khá lớn, Điều 21 Hiến chương, Điều 1 Hiệp định khung về hợp tác kinh tế ASEAN năm 1992 đã ghi nhận hai nguyên tắc riêng của tổ chức này trong quá trình thực thi các cam kết kinh tế là nguyên tắc “-X” và “2+X”. Theo nguyên tắc “‑X”, các quốc gia chưa đủ điều kiện để hội nhập có thể thực hiện các cam kết kinh tế chậm hơn so với lộ trình chung nhưng sẽ không được hưởng các ưu đãi mở cửa từ các quốc gia thực hiện theo đúng lộ trình chung. Ngược lại, theo nguyên tắc “2+X”, trong quá trình thực thi các thoả thuận kinh tế, hai nước ASEAN trở lên có thể tiến hành trước nếu các quốc gia thành viên khác chưa sẵn sàng thực thi những thoả thuận này.
Hợp tác về phát triển TMĐT trong ASEAN là một trong các hoạt động hợp tác của ASEAN vì vậy cơ chế thực thi các thoả thuận trong lĩnh vực hợp tác này cũng được thực hiện dựa trên các nguyên tắc trên: mỗi quốc gia sẽ thông qua những cơ quan có thẩm quyền do pháp luật quốc gia quy định để thực hiện những nội dung được đề ra trong Hiệp định Thương mại điện tử ASEAN 2019; các thiết chế của ASEAN sẽ có nhiệm vụ điều phối quá trình hợp tác và theo dõi việc thực hiện các cam kết của các nước thành viên theo Hiệp định này. Trong quá trình thực thi, các nước thành viên được quyền áp dụng nguyên tắc “-X” hoặc “2+X” bởi TMĐT thuộc lĩnh vực hợp tác về kinh tế. Trong phần 3) của bài viết, tác giả tập trung phân tích làm rõ một số vấn đề cần hoàn thiện trong pháp luật TMĐT ở Việt Nam trên cơ sở các cam kết trong Hiệp định Thương mại điện tử ASEAN 2019 để đảm bảo hiệu quả thực thi Hiệp định này của Việt Nam.
4. Thiết chế điều phối hợp tác ASEAN về phát triển thương mại điện tử
Thiết chế điều phối hợp tác ASEAN về phát triển TMĐT bao gồm chủ yếu là các cơ quan hoạt động theo kỳ họp: (1) Hội nghị cấp cao ASEAN có thẩm quyền đưa ra các chỉ đạo về chính sách và quyết định các vấn đề then chốt liên quan đến hợp tác về phát triển TMĐT trong ASEAN; (2) Hội đồng Cộng đồng kinh tế có thẩm quyền điều phối và đảm bảo thực hiện các chính sách, quyết định của Hội nghị Cấp cao có liên quan đến hợp tác ASEAN về phát triển TMĐT; (3) Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN (AEM) có chức năng thảo luận và xem xét các vấn đề về TMĐT trong cuộc họp giữa các bộ trưởng kinh tế ASEAN; (4) Hội nghị Bộ trưởng Công nghệ thông tin và Truyền thông (TELMIN) có chức năng thảo luận và xem xét các hoạt động hợp tác khu vực về CNTT-TT; ngoài ra, giúp việc cho Hội nghị Bộ trưởng Công nghệ thông tin và Truyền thông và Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN là Hội nghị các quan chức cao cấp về công nghệ thông tin và truyền thông (TELSOM) và Hội nghị quan chức kinh tế cao cấp ASEAN (SEOM). Bên cạnh các cơ quan hoạt động theo kỳ họp, ASEAN còn thành lập các nhóm làm việc chuyên sâu với nhiệm vụ tư vấn, điều phối cho các thoả thuận, các chương trình hợp tác của các nước thành viên về phát triển TMĐT và các vấn đề liên quan như công nghệ thông tin, hệ thống thanh toán, bảo vệ người tiêu dùng,… đó là các cơ quan: Uỷ ban điều phối ASEAN về thương mại điện tử (ACCEC); Nhóm công tác về hợp tác sở hữu trí tuệ các nước ASEAN; Uỷ ban điều phối ASEAN về doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và vừa; Nhóm công tác các nhà quản lý viễn thông ASEAN (ATRC JWG/WGs); Ủy ban tham vấn Thuận lợi hóa Thương mại ASEAN (ATF-JCC); Nhóm công tác ASEAN về hệ thống thanh toán (WC-PSS), Nhóm chuyên gia ASEAN về cạnh tranh (AEGC).
5. Hệ thống quy định pháp luật về thương mại điện tử của Việt Nam
Cơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt động TMĐT ở Việt Nam ra đời khá muộn so với nhiều nước trên thế giới. Dựa trên Luật mẫu UNCITRAL về Thương mại điện tử 1996 và các hướng dẫn trong Khung tham chiếu về Thương mại điện tử ASEAN 2002, năm 2005, Việt Nam đã soạn thảo và thông qua Luật Giao dịch điện tử, đặt nền móng cho khung pháp lý về TMĐT tại Việt Nam. Luật quy định về những vấn đề cơ bản của hoạt động TMĐT như quy định về giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu; quy định chi tiết về chữ ký điện tử và chứng thực chữ ký điện tử; giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử; giao dịch điện tử của cơ quan nhà nước; an ninh, an toàn, bảo vệ, bảo mật trong giao dịch điện tử, giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trong giao dịch điện tử. Cùng với Luật Giao dịch điện tử, năm 2005, Quốc hội Việt Nam cũng thông qua hai luật có tính chất đặt nền tảng pháp lý cho TMĐT, đó là Luật Thương mại và Bộ luật Dân sự (nay đã thay thế bằng Bộ luật Dân sự 2015). Ngoài ra, hoạt động TMĐT còn chịu sự điều chỉnh của một số luật như Luật Công nghệ thông tin năm 2006, Luật Viễn thông năm 2009, Luật An ninh mạng năm 2018, Bộ luật Hình sự năm 2015, Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 2010, Luật Quảng cáo năm 2012, Luật Đầu tư năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2020, Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2009 và 2019).
Ngoài ra, để hướng dẫn, quản lý giao dịch điện tử và các hoạt động liên quan đến TMĐT, Chính phủ Việt Nam đã ban hành các văn bản dưới luật để quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện luật về TMĐT và xử lý vi phạm trong lĩnh vực TMĐT như: Nghị định số 52/2013/NĐ-CP về Thương mại điện tử ngày 16 tháng 5 năm 2013 (Nghị định số 52/2013/NĐ-CP); Nghị định số 130/2018/NĐ-CP ngày 27 tháng 9 năm 2018 quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số; Nghị định số 27/2007/NĐ-CP ngày 23/02/2007 quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính; Nghị định số 35/2007/NĐ-CP ngày 8/3/2007 về Giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng; Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 về Thanh toán không dùng tiền mặt; Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015), Nghị định số 25/2014/NĐ-CP ngày 07/4/2014 quy định về phòng, chống tội phạm và vi phạm luật khác có sử dụng công nghệ cao… Về thông tư hướng dẫn, có nhiều văn bản hướng dẫn trong nhiều lĩnh vực, có thể kể đến một số văn bản như: Thông tư số 37/2009/TT-BTTTT ngày 22/7/2010 của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định về hồ sơ và thủ tục liên quan đến cấp phép, đăng ký, công nhận các tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số; Thông tư số 32/2011/TT-BTC ngày 14/3/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn về khởi tạo, phát hành và sử dụng hoá đơn điện tử bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ; Thông tư số 47/2014/TT-BTC ngày 5/12/2014 của Bộ Công thương quy đinh về quản lý website thương mại điện tử; Thông tư số 110/2015/TT-BTC ngày 28/7/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế…
Bài viết tham khảo: Hợp tác ASEAN về phát triển Thương mại điện tử và vấn đề đặt ra đối với hoàn thiện pháp luật thương mại điện tử ở Việt Nam; ThS. ĐOÀN QUỲNH THƯƠNG (Bài viết đăng Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia “Phát triển thương mại điện tử Việt Nam trong kỷ nguyên số” do Cục Thương mại điện tử và kinh tế số, Bộ Công thương tổ chức ngày 04/11/2020 tại Trường Đại học Thương mại Hà Nội).