1. Quy định về số ngày công tối thiểu để đóng BHXH:
Tại điểm b khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 quy định về đối tượng áp dụng của bảo hiểm xã hội bắt buộc, cụ thể như sau:
- Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc:
+ Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng: Đây là những người lao động có hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc có hợp đồng lao động với thời hạn xác định, cũng như những người làm công việc theo mùa vụ hoặc theo một công việc cụ thể với thời hạn từ 3 tháng đến dưới 12 tháng. Đối tượng này cũng bao gồm những hợp đồng lao động được ký kết với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động.
+ Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng: Đây là những người lao động có hợp đồng lao động với thời hạn từ 1 tháng đến dưới 3 tháng.
Tại Điều 85 Luật Bảo hiểm xã hội 2014, quy định về mức đóng và phương thức đóng bảo hiểm xã hội của người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, cụ thể như sau:
- Mức đóng và phương thức đóng của người lao động tham gia bảo hiểm xã hội:
- Người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không đóng bảo hiểm xã hội tháng đó. Thời gian này không được tính để hưởng bảo hiểm xã hội, trừ trường hợp nghỉ việc hưởng chế độ thai sản.
Theo quy định này, người lao động chỉ cần ký hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên với người sử dụng lao động thì đều được công ty đóng bảo hiểm do thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Tuy nhiên, nếu trong 01 tháng mà người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên thì tháng đó sẽ không được đóng bảo hiểm xã hội.
Do đó, người lao động chỉ cần nghỉ không lương tối đa không quá 13 ngày làm việc thì đều sẽ được đóng bảo hiểm xã hội. Thông thường, nếu đi làm đầy đủ, số ngày công mỗi tháng của người lao động dao động từ 22 đến 28 ngày công (tùy vào chế độ nghỉ của doanh nghiệp) nên chỉ cần làm việc khoảng 09 đến 15 ngày công trong tháng thì sẽ được công ty đóng bảo hiểm xã hội.
2. Trường hợp được đóng BHXH khi làm không đủ ngày công:
Khi xét về việc đóng Bảo hiểm Xã hội (BHXH) trong trường hợp làm không đủ ngày công, các trường hợp nghỉ phép và nghỉ ốm được xem xét khác nhau.
Nghỉ phép:
- Nghỉ phép có hưởng lương: Thời gian nghỉ phép có hưởng lương là thời gian được tính vào tổng số ngày công để đóng BHXH. Người lao động vẫn được tính đủ ngày công trong tháng đó.
- Nghỉ phép không hưởng lương:
+ Nghỉ phép từ 1 đến 13 ngày trong tháng: Các ngày nghỉ phép này vẫn được tính vào số ngày công để đóng BHXH. Người lao động sẽ được tính đủ ngày công trong tháng đó.
+ Nghỉ phép từ 14 ngày trở lên trong tháng: Các ngày nghỉ phép này không được tính vào số ngày công để đóng BHXH. Người lao động sẽ không được tính đủ ngày công trong tháng đó.
Nghỉ ốm:
+ Tất cả các ngày nghỉ ốm dưới 14 ngày vẫn được tính vào số ngày công để đóng BHXH. Người lao động sẽ được tính đủ ngày công trong tháng đó.
+ Nếu có giấy tờ chứng minh nghỉ ốm từ 14 ngày trở lên, tất cả các ngày nghỉ ốm này vẫn được tính vào số ngày công để đóng BHXH. Nếu không có giấy tờ chứng minh, các ngày nghỉ ốm từ 14 ngày trở lên sẽ không được tính vào số ngày công để đóng BHXH. Người lao động sẽ không được tính đủ ngày công trong tháng đó.
Trường hợp khác:
- Số ngày công được tính từ ngày đầu tiên làm việc tại đơn vị mới. Các ngày làm việc sau khi chuyển đổi công việc đều được tính vào số ngày công để đóng BHXH.
- Số ngày công được tính từ ngày đầu tiên làm việc đến ngày nghỉ việc. Người lao động sẽ chỉ được tính số ngày công trong tháng đó tới ngày nghỉ việc.
Qua các quy định này, việc tính toán số ngày công để đóng BHXH trở nên cụ thể và minh bạch, giúp bảo đảm tính công bằng cho người lao động. Tại Điều 18 của Luật Bảo hiểm xã hội 2014, quy định các quyền của người lao động khi tham gia bảo hiểm xã hội như sau:
- Tham gia và hưởng các chế độ bảo hiểm: Người lao động có quyền tham gia và hưởng các chế độ bảo - hiểm xã hội theo quy định của luật.
- Cấp và quản lý sổ bảo hiểm xã hội: Người lao động được cấp và quản lý sổ bảo hiểm xã hội để ghi nhận các quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến bảo hiểm xã hội.
- Hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội: Người lao động được hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội đầy đủ, kịp thời theo các hình thức chi trả quy định.
- Hưởng bảo hiểm y tế: Người lao động được hưởng bảo hiểm y tế trong các trường hợp được quy định, như trong thời gian nghỉ việc thai sản, ốm đau, nhận trợ cấp bệnh lâu dài, v.v.
- Được chủ động đi khám giám định: Người lao động được quyền đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động và được thanh toán phí giám định y khoa.
- Ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp: Người lao động có quyền ủy quyền cho người khác nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội.
- Cung cấp thông tin và xác nhận đóng bảo hiểm: Người lao động được cung cấp thông tin định kỳ về đóng bảo hiểm xã hội và được yêu cầu cung cấp thông tin về việc đóng, hưởng bảo hiểm xã hội.
- Khiếu nại, tố cáo và khởi kiện: Người lao động có quyền khiếu nại, tố cáo và khởi kiện về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật.
Tóm lại, Điều 18 của Luật Bảo hiểm xã hội 2014 đã quy định rõ các quyền của người lao động khi tham gia bảo hiểm xã hội, nhằm bảo vệ và đảm bảo quyền lợi của họ trong quá trình lao động và sau khi về hưu.
3. Hậu quả của việc không đóng BHXH đủ thời gian:
Việc không đóng Bảo hiểm Xã hội (BHXH) đủ thời gian có thể gây ra các hậu quả nghiêm trọng, bao gồm:
- Ảnh hưởng đến quyền lợi hưởng các chế độ: Khi không đóng đủ thời gian BHXH, người lao động sẽ bị mất quyền lợi hưởng các chế độ BHXH như hưu trí, ốm đau, thai sản, thất nghiệp và các chế độ khác. Điều này có thể đặt họ vào tình trạng rủi ro về tài chính và sức khỏe khi không có nguồn thu nhập ổn định trong các tình huống khẩn cấp hoặc khi không thể làm việc.
Phải nộp số tiền thiếu khi tham gia lại BHXH: Khi người lao động muốn tham gia lại BHXH sau một thời gian không đóng đủ, họ sẽ phải nộp số tiền thiếu để bù đắp cho khoản thời gian không đóng đủ BHXH trước đó. Điều này không chỉ là gánh nặng về mặt tài chính mà còn là một biện pháp khắc phục hậu quả của việc không duy trì đủ thời gian đóng BHXH.
Tóm lại, việc không đóng BHXH đủ thời gian có thể dẫn đến mất quyền lợi và gánh nặng tài chính khi phải bù đắp số tiền thiếu khi tham gia lại BHXH. Đây là một vấn đề cần được người lao động và doanh nghiệp quan tâm để đảm bảo quyền lợi và ổn định tài chính trong tương lai.
Quý khách có nhu cầu xem thêm bài viết sau: Lương tham gia bảo hiểm xã hội là gì? Cách tính tiền lương đóng BHXH
Nếu quý khách hàng đang gặp phải bất kỳ vấn đề pháp lý nào hoặc có câu hỏi cần được giải đáp, xin vui lòng không ngần ngại liên hệ với chúng tôi thông qua Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline 1900.6162. Đội ngũ chuyên gia của chúng tôi sẵn sàng lắng nghe và cung cấp sự tư vấn chuyên nghiệp để giúp quý khách giải quyết mọi vấn đề một cách hiệu quả và đúng luật. Ngoài ra, quý khách hàng cũng có thể gửi yêu cầu chi tiết qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc một cách nhanh chóng. Chúng tôi cam kết đáp ứng mọi yêu cầu của quý khách hàng một cách chu đáo và chất lượng.