1. Quy định về tạm đình chỉ công việc

Theo quy định tại khoản 4 Điều 128 Bộ Luật Lao động năm 2019, khi người lao động bị tạm đình chỉ công việc và không bị xử lý kỷ luật lao động, người sử dụng lao động phải trả đủ tiền lương cho thời gian bị tạm đình chỉ công việc. Điều này đảm bảo quyền lợi của người lao động và đồng thời khuyến khích sự công bằng và trung thực trong quản lý lao động.

Hơn nữa, theo quy định tại Điều 65 Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn Bộ Luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động, có những trường hợp thời gian được tính là thời gian làm việc để tính số ngày nghỉ hằng năm của người lao động. Theo đó:

- Thời gian học nghề, tập nghề theo quy định tại Điều 61 của Bộ luật Lao động nếu sau khi hết thời gian học nghề, tập nghề mà người lao động làm việc cho người sử dụng lao động.

- Thời gian thử việc nếu người lao động tiếp tục làm việc cho người sử dụng lao động sau khi hết thời gian thử việc.

- Thời gian nghỉ việc riêng có hưởng lương theo khoản 1 Điều 115 của Bộ luật Lao động.

- Thời gian nghỉ việc không hưởng lương nếu được người sử dụng lao động đồng ý nhưng cộng dồn không quá 01 tháng trong một năm.

- Thời gian nghỉ do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp nhưng cộng dồn không quá 6 tháng.

- Thời gian nghỉ do ốm đau nhưng cộng dồn không quá 02 tháng trong một năm.

- Thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

- Thời gian thực hiện các nhiệm vụ của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở mà được tính là thời gian làm việc theo quy định của pháp luật.

- Thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động.

- Thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc nhưng sau đó được kết luận là không vi phạm hoặc không bị xử lý kỷ luật lao động.

Theo quy định, trong trường hợp người lao động bị tạm đình chỉ công việc để tiến hành điều tra, xác minh lỗi vi phạm và sau khi xác định rõ rằng người lao động không có lỗi, thì người lao động vẫn được hưởng đầy đủ tiền lương cho những ngày bị đình chỉ làm việc. Điều này đảm bảo quyền lợi của người lao động khi họ không gây ra sự cố hoặc vi phạm nào trong quá trình làm việc.

Bên cạnh việc được thanh toán lương, số ngày nghỉ này cũng được tính làm thời gian làm việc để tính số ngày nghỉ phép hàng năm của người lao động. Điều này có nghĩa là ngày đình chỉ công việc không chỉ đóng vai trò là ngày nghỉ mà còn được tính vào số ngày nghỉ phép hàng năm mà người lao động có quyền hưởng. Quy định này nhằm đảm bảo quyền lợi và công bằng cho người lao động, bởi vì người lao động không nên bị thiệt thòi về mặt kinh tế do sự cố nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ. Việc tạm đình chỉ công việc là một biện pháp cần thiết để xác minh lỗi vi phạm trong một vụ việc, và việc người lao động vẫn được hưởng lương và tính vào số ngày nghỉ phép hàng năm giúp bảo vệ quyền lợi của họ trong quá trình này.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng việc tạm đình chỉ công việc chỉ được áp dụng trong những trường hợp cụ thể và phải tuân thủ theo quy định của pháp luật và chính sách doanh nghiệp. Đồng thời, việc xác định rằng người lao động không có lỗi cũng phải được thực hiện một cách công bằng và minh bạch, đảm bảo sự đánh giá đúng đắn về trách nhiệm của từng bên liên quan.

Tóm lại, trong trường hợp người lao động bị tạm đình chỉ công việc để điều tra, xác minh lỗi vi phạm và xác định rằng không phải lỗi của người lao động, người lao động sẽ tiếp tục nhận được đầy đủ lương cho những ngày bị đình chỉ công việc. Đồng thời, số ngày nghỉ này cũng được tính làm thời gian làm việc để tính số ngày nghỉ phép hàng năm của người lao động.

 

2. Trường hợp được hưởng lương trong thời gian tạm đình chỉ công việc

Theo quy định hiện hành, trong trường hợp người lao động bị tạm đình chỉ công việc để tiến hành điều tra, xác minh lỗi vi phạm và sau khi xác định rõ ràng rằng người lao động không có lỗi, thì người lao động vẫn được hưởng tiền lương trong suốt thời gian bị đình chỉ công việc. Điều này đảm bảo quyền lợi của người lao động khi họ không gây ra sự cố hoặc vi phạm nào trong quá trình làm việc.

Bên cạnh việc tiếp tục nhận lương, trường hợp này cũng áp dụng cho những trường hợp khác khi người lao động không có việc làm. Đầu tiên, khi người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động đơn phương hoặc khi hợp đồng lao động tập thể bị chấm dứt đơn phương, người lao động sẽ được hưởng lương trong thời gian không có việc làm do nguyên nhân này.

Thứ hai, người lao động cũng được hưởng lương trong trường hợp không có việc làm do các yếu tố bất khả kháng như thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, lụt lội và các trường hợp khác. Điều này đảm bảo rằng người lao động không gặp khó khăn về mặt tài chính khi không thể làm việc do những yếu tố nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ.

Quy định này đã được thiết lập nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động trong các trường hợp đặc biệt khi họ không có việc làm do các nguyên nhân khách quan. Điều này giúp đảm bảo sự công bằng và bình đẳng trong quan hệ lao động và ngăn chặn tình trạng thiệt hại tài chính không công bằng cho người lao động.

Tuy nhiên, để áp dụng quy định này, cần tuân thủ đúng quy trình và điều kiện quy định. Việc xác định rõ ràng và chính xác nguyên nhân dẫn đến việc không có việc làm là một yếu tố quan trọng, và quy trình xử lý và giải quyết tranh chấp liên quan cũng cần được thực hiện một cách công bằng và minh bạch.

Tóm lại, trong trường hợp người lao động bị tạm đình chỉ công việc để điều tra, xác minh lỗi vi phạm và xác định rằng không phải lỗi của họ, người lao động vẫn sẽ được hưởng lương. Đồng thời, quy định này cũng áp dụng cho những trường hợp khác khi người lao động không có việc làm do chấm dứt hợp đồng lao động đơn phương hoặc do các yếu tố bất khả kháng như thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, lụt lội và các trường hợp tương tự.

 

3. Trường hợp không được hưởng lương trong thời gian tạm đình chỉ công việc

Theo quy định hiện hành, trong một số trường hợp cụ thể, người lao động sẽ không được hưởng lương trong thời gian tạm đình chỉ công việc. Các trường hợp này bao gồm:

- Người lao động vi phạm nội quy, quy chế lao động của cơ sở làm việc và bị kỷ luật bằng hình thức đình chỉ công việc. Trong trường hợp này, việc đình chỉ công việc là một biện pháp kỷ luật để xử lý hành vi vi phạm của người lao động. Trong thời gian bị đình chỉ công việc, người lao động không chỉ mất quyền lương mà còn không thể thực hiện công việc và nhận thu nhập từ công việc đó.

- Người lao động tự ý nghỉ việc mà không có sự đồng ý hoặc thông báo trước cho người sử dụng lao động. Trong trường hợp này, việc nghỉ việc không phép là một vi phạm hợp đồng lao động và người lao động sẽ không được hưởng lương trong thời gian không làm việc và không có sự chấp thuận từ phía người sử dụng lao động.

- Người lao động tự ý nghỉ việc mà không tuân thủ quy định về thời gian thông báo nghỉ việc trước đối với người sử dụng lao động. Theo quy định, người lao động phải thông báo trước về quyết định nghỉ việc ít nhất là một khoảng thời gian nhất định trước khi thực hiện. Nếu người lao động không tuân thủ quy định này và tự ý nghỉ việc mà không thông báo trước, người lao động sẽ không được hưởng lương trong thời gian không làm việc.

Những trường hợp trên được quy định nhằm xử lý các hành vi vi phạm và đảm bảo sự tuân thủ các quy định và quy chế trong quan hệ lao động. Người lao động cần tuân thủ các quy định và quy chế lao động, cũng như thực hiện trách nhiệm của mình đối với công việc và hợp đồng lao động để tránh những hậu quả tiêu cực như không được hưởng lương trong thời gian tạm đình chỉ công việc.

Bài viết liên quan: Mẫu Quyết định tạm đình chỉ công việc, công tác mới nhất

Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê về vấn đề: Có được hưởng lương trong thời gian bị tạm đình chỉ công việc? Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn và rất hân hạnh được đồng hành cùng quý khách!