1. Có được khởi kiện chia thừa kế không ?

Kính chào LS! Xin LS vui lòng cho em tư vấn việc này : Bà A có 5 người con, chồng chết năm 1973, vợ chồng bà có thửa đất nhưng đến năm 1991 mới được cấp giấy, năm 2000 bà A chết không để lại di chúc, năm 2005 ông B ( là con ruột bà A ) làm thủ tục chuyển toàn bộ diện tích đất về phần mình. Năm 2007 anh em của ông B kiện chia thừa kế nhưng tòa không chấp nhận đơn kiện với lý do thiếu giấy tờ, chứng cứ nên không thuộc thẩm quyền của Tòa.

Năm 2014 anh em ông B tiếp tục khiếu nại UBND huyện về việc cấp giấy CNQSD đất cho ông B là không đúng quy định của pháp luật. Năm 2015 UBND huyện thu hồi giấy CN.QSD đất của ông B và phục hồi lại toàn bộ quyền SDĐ cho bà A, phần đất trên vẫn thuộc về bà A.

Như vậy, thời hiệu thừa kế trong trường hợp này đã hết thời hiệu chưa? các anh em của ông B có được khởi kiện chia thừa kế không? Nếu không thì phải làm gì cho đúng pháp luật (hiện tại trên mảnh đất đó đang hiện hữu 3 căn nhà của 3 đứa con của bà A) ?

Người gửi: Tú

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến thư mục tư vấn của công ty Luật Minh Khuê. Đối với trường hợp của bạn, chúng tôi sẽ tư vấn cho bạn như sau:

Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định về thời hiệu khởi kiện về thừa kế, cụ thể như sau:

"Điều 623. Thời hiệu thừa kế

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế".

Như vậy, trong trường hợp này, thời hiện khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản đã hết và anh em ông B sẽ không có quyền khởi kiện để yêu cầu chia di sản thừa kế nữa.

Tuy nhiên, theo khoản 2.4 Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP hưướng dẫn áp dụng pháp luật giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình có quy định về việc không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế:

"2.4. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế

a. Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

a.1. Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.

a.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thảo thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.

a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

b. Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản."

Như vậy, anh em ông B có thể chọn một trong hai cách sau để đảm bảo quyền lợi của các bên:

- Cách 1: Họp mặt những đồng thừa kế để thỏa thuận các nội dung như: Cử người quản lý di sản, người phân chia di sản, xác định quyền, nghĩa vụ của những người này, nếu người để lại di sản không chỉ định trong di chúc; Cách thức phân chia di sản. Các bên có thể cùng nhau đến tổ chức công chứng trên địa bàn nơi có bất động sản để yêu cầu chia di sản thừa kế. Tuy nhiên, để thực hiện theo cách này thì phải có sự đồng thuận của tất cả các đồng thừa kế.

- Cách 2: Khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung: Để khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung thì các đồng thừa kế phải có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia. Khi có văn bản xác nhận có chữ ký của tất cả các đồng thừa kế thì di sản do người chết để lại chuyển thành tài sản chung của các thừa kế và Tòa án sẽ áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết.

>> Xem thêm:  Vợ có nhà ở riêng thì chồng có được mua nhà ở xã hội không ? Mức thuế phải nộp khi mua nhà đất

2. Tư vấn về chia thừa kế là tài sản của vợ chồng ?

Xin chào công ty luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi sau: Ông A và bà B là vợ chồng từ năm 1990 và có hai con là D và E. Năm 2014 ông A mất. Tài sản của vợ chồng ông A có 800 triệu. Trong di chúc ông để lại ½ tài sản cho D và ¼ tài sản cho E. Anh/chị hãy vận dụng quy định pháp luật để chia thừa kế của ông A trong trường hợp trên ?
Xin trân thành cám ơn!

Có được khởi kiện chia thừa kế không ?

Luật sư tư vấn luật dân sự về thừa kế tài sản, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Do tài sản của vợ chồng ông A có 800 triêu. Vậy xác định tài sản của riêng anh A sẽ là 400 triệu.

Được biết ông A để lại di chúc với ½ tài sản cho D và ¼ tài sản cho E. Ông không hề nhắc tới bà B (vợ của ông). Căn cứ Ðiều 644 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về những trường hợp người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, cụ thể như sau:

"Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này".

Như vậy: Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động”.

Theo đó, bà B thuộc vào những trường hợp này, nên bà B sẽ hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của 1 người thừa kế theo pháp luật. Xác định suất của 1 người thừa kế theo pháp luật là: 400 triệu : 3 = 133.333.000 đồng

di sản bà B được nhận: 2/3 * 133.333.000 = 88.889.000 đồng

Ông A để lại cho D là ½ di sản = 200.000.000 đồng

Để lại cho E là ¼ di sản = 100.000.000 đồng

Vậy di sản của ông A sẽ còn lại: 400.000.000 –( 88.889.000 + 200.000.000 +100.000.000) = 11.111.000 đồng

Số di sản còn lại này sẽ được chia theo pháp luật, với hàng thừa kế thứ nhất gồm: bà B, D và E:

B = D = E = 3.703.667 đồng

Vậy, di sản được nhận của bà B là: 92.592.667 đồng; D là: 203.703.667 đồng;

C là 103.703.667 đồng.

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Chia thừa kế đối với đất đã được cấp sỏ đỏ ?

Chào luật sư, cháu có vấn đề sau mong được các luật sư tư vấn ạ. Ông bà nội cháu đẻ được 8 người con, 6 người con gái và hai người con trai là bố cháu (thứ 4 sinh năm 1957) và bác thứ 3. Bà nội cháu mất sớm trước năm 1972. Bác thứ 3 mất cũng đã lâu.

Bố cháu phải làm lụng vất vả từ bé để phụ giúp kinh tế cho Ông nội và chăm sóc cho các cô do các cô còn nhỏ các bác gái thì đi lấy chồng sớm và không phụ giúp được gì cho bố cùng các em. Năm 1972 bố cháu cùng ông nội có mua lại một mảnh đất ao của ông X người cùng xóm với diện tích 456m2 để bố cháu nuôi thả cá giống. Tại thời điểm mua bán không có giấy tờ chuyển nhượng đất mà chỉ giao kèo bằng miệng. Bố cháu thực hiện nuôi cá giống trên mảnh đất đó để phụ giúp ông về kinh tế và chăm lo cho các em. Sau đó bố cháu đi bộ đội, sau 4 năm bố cháu trở về quê để chăm lo cho ông nội và các cô. Sau đó Bố cháu lấy mẹ cháu và vẫn ở cùng ông nội và các cô của cháu trên mảnh đất 102 m2 là tài sản của ông bà. Khoảng năm 1993 cô thứ tám nhà cháu (là cô út) đi lấy chồng bố mẹ cháu đã phải lo toàn bộ chi phí cưới hỏi cho cô ấy (do lúc này ông nội cháu đã tuổi cao, sức yếu lại thường xuyên uống rượi nên không còn là lao động chính trong nhà).

Từ đó đến năm 2001 Ông nội cháu vẫn sống cùng bố mẹ cháu và được bố mẹ cháu phụng dưỡng. Năm 2001 Ông nội cháu mất, bố mẹ cháu đứng ra lo ma chay, giỗ chạp cho cả ông nội và bà nội cho đến nay. Năm 2008 bố cháu được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các mảnh đất 102m2 và 456m2 do sử dụng ổn định, lâu dài và nộp thuế đầy đủ (bố cháu vẫn giữ được biên lai nộp thuế đứng tên bố cháu từ năm 1972) không có tranh chấp gì, việc cấp giấy chứng nhận tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật có dán giấy và thông báo ở xã 30 ngày các cô các bác của cháu đều đồng ý và không có ý kiến gì (nhưng không có giấy xác nhận). Năm 2010 Bố cháu có bán mảnh đất 102 m2 cho bà Nguyễn Thị M (đã được sự đồng ý của các cô, các bác (do bố cháu có họp gia đình xin ý kiến) nhưng không có giấy tờ). Đến giữa năm 2010 do nảy sinh mâu thuẫn giữa các anh chị em của bố cháu, các cô, bác đã khởi kiện bố cháu đòi quyền chia mảnh đất 456m2. Khi biết chuyện ông X đã bán mảnh đất cho ông và bố cháu đã ký vào giấy xác nhận việc bán mảnh đất 456 m2 là bán cho bố cháu vì tiền để mua mảnh đất là tiền do bố cháu tiết kiệm được khi đi làm cá cùng ông nội. và giấy tờ có xác nhận của chủ tịch uỷ ban nhân dân xã.

Nhưng các cô các bác cháu không đồng ý và nhất định đòi chia mảnh đất 102m2 và 456m2 theo luật thừa kế. Bác gái cả đã đi lấy chồng >40 năm, cô út cũng đã lấy chồng >20 năm và trong suốt quá trình không có trách nhiệm hay đóng góp gì cho những mảnh đất trên, cũng không chăm sóc, nuôi dưỡng ông nội cháu được ngày nào.

Vậy Luật sư cho cháu hỏi việc đòi chia thừa kế như vậy là đúng hay sai?

Cháu xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về thời hiệu thừa kế,cụ thể như sau:

"Điều 623. Thời hiệu thừa kế

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế".

Hết thời hạn này, người được thừa kế không có quyền khởi kiện nữa . Song, thời gian 10 năm này không phải lúc nào cũng được tính liên tục.Tại Điều 156 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định các khoản thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, tức là khoảng thời gian xảy ra các sự kiện sau đây:

"Điều 156. Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự

Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự là khoảng thời gian xảy ra một trong các sự kiện sau đây:

1. Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện, quyền yêu cầu không thể khởi kiện, yêu cầu trong phạm vi thời hiệu.

Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.

Trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền, nghĩa vụ dân sự của mình;

2. Chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện, người có quyền yêu cầu là người chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;

3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chưa có người đại diện khác thay thế trong trường hợp sau đây:

a) Người đại diện chết nếu là cá nhân, chấm dứt tồn tại nếu là pháp nhân;

b) Người đại diện vì lý do chính đáng mà không thể tiếp tục đại diện được".

Vậy, để xác định được thời hiệu, trước hết phải biết được khi nào là thời điểm mở thừa kế. Thời điểm mở thừa kế ở đây chính là thời điểm mà người để lại di sản qua đời, hoặc ngày mà Tòa án có thẩm quyền ra quyết định tuyên bố người để lại di sản đã chết. Như vậy, chỉ được khởi kiện về thừa kế từ ngày mở thừa kế, bởi vì pháp luật chỉ công nhận quan hệ thừa kế bắt đầu từ lúc này. Bên cạnh đó, cần lưu ý một điều là khi yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề liên quan đến thừa kế, cần phải xuất trình các giấy tờ chứng minh rằng người có tài sản này đã chết, như giấy chứng tử, quyết định của Toà án tuyên bố một người là đã chết...

Như đã nói ở trên, quyền khởi kiện về tranh chấp di sản thừa kế chỉ tồn tại trong 10 năm, kể từ ngày mở thừa kế, nhưng không phải trong mọi trường hợp đều áp dụng quy định trên. Tại Mục 2.4, Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình có quy định về hai trường hợp không tính thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, đó là:

- Trường hợp có tài sản chung, tức là trong thời hạn 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà những người được thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế; Hoặc sau khi kết thúc thời hạn 10 năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Nếu có tranh chấp, hoặc có yêu cầu về việc chia thừa kế, Tòa án sẽ giải quyết như sau:

Nếu người chết có để lại di chúc, mà các đồng thừa kế không có tranh chấp gì về bản di chúc này, đồng thời cùng thoả thuận với nhau về việc tài sản sẽ được chia theo di chúc khi những người thừa kế có nhu cầu, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc, bất cứ lúc nào có yêu cầu từ phía người thừa kế.

Nếu không có di chúc, mà các đồng thừa kế tự thảo thuận với nhau về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ, bất cứ lúc nào có yêu cầu từ phía người thừa kế.

Nếu không có di chúc và cũng không có thoả thuận giữa những người thừa kế về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì khi một trong những người thừa kế có yêu cầu về việc chia khối tài sản chung đó, việc chia này sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

Trường hợp người chết có để lại di sản thừa kế, nhưng di sản đó không nằm trong sự quản lý của những người thừa kế, mà đang do một người khác chiếm hữu bất hợp pháp, hay đang thuê, mượn, quản lý tài sản theo ủy quyền của người để lại di sản..., mà không đồng ý trả lại khi có yêu cầu của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền khởi kiện đòi lại số tài sản đó. Bởi vì, thực tế sẽ có những người vì một số lý do khách quan, họ không thể biết được người chết có để lại tài sản hoặc vẫn còn tài sản chưa được chia, nên việc tính thời hiệu sẽ không áp dụng ở đây.

Việc xác định thời hiệu khởi kiện là rất quan trọng, bởi khi hết thời hiệu này, quyền khởi kiện của người thừa kế sẽ không còn tồn tại, điều đó đồng nghĩa với việc quyền và lợi ích hợp pháp của người thừa kế sẽ không còn được bảo vệ.

Đối với trường hợp của gia đình bạn việc khởi kiện chia tài sản thừa kế đã hết thời hiệu nên quyền và lợi ích hợp pháp của những người thừa kế không còn được luật bảo vệ nữa.

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến về đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất

4. Chia tài sản thừa kế cho con riêng như thế nào ?

Chào luật sư! Tôi muốn nhờ luật sư tư vấn về vấn đề chia tài sản. Ba tôi có A&B là con riêng của ba và vợ trước. Vợ trước mất sau đó ba tôi lấy mẹ tôi và 2 người sinh ra tôi (tôi là con chung của 2 người). Ba tôi mất không để lại di chúc. Giấy tờ nhà cửa, đất đai đều đứng tên ba, mẹ và tôi nữa. Vậy xin hỏi tài sản có cần chia cho 2 chị A&B không?
Tôi xin cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Căn cứ khoản 1 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng."

Như vậy giấy tờ, nhà cửa đất đai đứng tên ba, mẹ bạn và bạn thì trong trường hợp này tài sản trên bố bạn vẫn có quyền sở hữu vì vậy phần tài sản do người chết để lại (chỉ chia phần tài sản nằm trong khối tài sản chung với bạn và mẹ bạn) sẽ được coi là di sản để chia thừa kế theo pháp luật.

Căn cứ Điều 611 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về thời điểm, địa điểm mở thừa kế, cụ thể như sau:

"Điều 611. Thời điểm, địa điểm mở thừa kế

1. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này.

2. Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ di sản hoặc nơi có phần lớn di sản".

Căn cứ Điều 613 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về người thừa kế, cụ thể như sau:

"Điều 613. Người thừa kế

Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế".

Căn cứ Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định như sau:

"Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản".

Như vậy con của bố bạn là chị A, B nếu còn sống vào thời điểm bố bạn mất thì di sản đó sẽ được chia cho hai người đó.Nếu hai người đó chết trước hoặc cùng thời điểm với bố bạn thì sẽ phần di sản mà họ được hưởng sẽ được chia thừa kế thế vị:

Căn cứ Điều 652 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về việc thừa kế thế vị, cụ thể như sau:

"Điều 652. Thừa kế thế vị

Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống".

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư giải quyết các tranh chấp về thừa kế

5. Em gái yêu cầu anh trai chia thừa kế được hay không ?

Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi: "Cha mẹ tôi qua đời để lại căn nhà mặt tiền, do anh cả tôi quản lý. 13 năm trôi qua, nay hai chị em tôi đề nghị chia thừa kế nhưng anh không đồng ý. Xin cho biết chúng tôi có quyền khởi kiện ra tòa đề nghị chia thừa kế căn nhà của cha mẹ hay không?". (Lê Ngoc Minh, quận 10, TP HCM).

Chia thừa kế theo pháp luật?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại điểm 2.4 Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao, sau khi kết thúc thời hạn 10 năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các đồng thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu tòa án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết.

Với quy định nói trên, trong trường hợp bố mẹ bạn không để lại di chúc cho người con trai cả, giữa anh em bạn không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì tài sản này sẽ được chia theo pháp luật như đối với các trường hợp chia tài sản chung.

Hiện nay, do thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế không còn nữa, chị em bạn không còn quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế nhưng vẫn có quyền khởi kiện để yêu cầu tòa án chia tài sản chung theo quy định của pháp luật. Nếu anh em bạn không thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có yêu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn soạn thảo, xác lập di chúc và phân chia tài sản thừa kế theo quy định của pháp luật