1. Một trong những đồng thừa kế không đồng ý phân chia di sản ?

Kính cháo luật sư, gia đình tôi có 3 chị em ruột, mẹ tôi mất năm 2010, bố tôi mất năm 2016. Bố, mẹ tôi có để lại tài sản (không có di chúc) là một căn nhà. Hiện nay chúng tôi muốn phân chia tài sản thừa kế theo pháp luật. Nhưng chỉ có 2 người là đồng ý chia di sản thừa kế, còn một người em thứ ba không đồng ý chia di sản.
Em tôi không đồng ý bán căn nhà để chia, cũng không muốn thanh toán cho hai người còn lại phần di sản do các chị em có mâu thuẫn với nhau. Bây giờ chúng tôi nên làm thế nào?
Mong các Luật Sư tư vấn giúp.

>> Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Bạn sẽ có quyền của người thừa kế đối với tài sản do bố, mẹ bạn để lại vào thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế. Điều 614 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

Điều 614. Thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế

Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”.

Theo đó, thời điểm mở thừa kế được pháp luật dân sự quy định như sau:

Điều 611. Thời điểm, địa điểm mở thừa kế

1. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này”.

Như vậy, thời điểm mở thừa kế là thời điểm khi mà bố, mẹ bạn qua đời, đồng thời cũng là thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của những người thừa kế. Do đó, khi bố, mẹ của bạn qua đời thì bạn và hai người em của bạn sẽ phát sinh quyền và vụ của những người thừa kế đối với di sản là căn nhà được bố, mẹ để lại.

Theo như lời bạn kể, trước khi chết bố, mẹ bạn không để lại di chúc. Theo đó, pháp luật quy định về trường hợp khi người chết không để lại di chúc như sau:

Điều 650. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;”

Như vậy, bạn và hai người em của bạn sẽ trở thành những người thừa kế theo pháp luật và được hưởng di sản thừa kế theo quy định của pháp luật dân sự về thừa kế. Pháp luật quy định về thứ tự ưu tiên trong trường hợp hưởng thừa kế theo pháp luật như sau:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại”.

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 651 BLDS, bạn và hai người em của bạn đều là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất, là những đồng thừa kế đối với căn nhà. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. Theo quy định của pháp luật thì những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

Theo khoản 2 điều 660 BLDS 2015, những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thoả thuận về việc định giá hiện vật và thoả thuận về người nhận hiện vật; nếu không thoả thuận được thì hiện vật được bán để chia.

Theo quy định của BLDS, việc phân chia di sản thừa kế ưu tiên sự thỏa thuận của các đồng thừa kế và việc thỏa thuận của ba anh chị em phải được lập thành văn bản. Trường hợp mà bạn nêu ở trên thì người em thứ ba tỏ ý không muốn bán căn nhà, tuy nhiên người này cũng không muốn thanh toán cho những đồng thừa kế còn lại số di sản mà họ đáng được hưởng. Như vậy, bạn và các em của bạn nên ngồi lại với nhau để thỏa thuận cho rõ ràng lại phần di sản này. Do tinh thần của BLDS chính là sự thỏa thuận, nên sự thỏa thuận giữa các đương sự đương sự với nhau luôn được pháp luật ưu tiên (trừ trường hợp bắt buộc theo quy định của pháp luật).

Như vậy, với thông tin bạn cung cấp, nếu người em thứ ba của bạn không đồng ý ký vào văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, thì những đồng thừa kế còn lại có thể nộp đơn đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi người đó cư trú để yêu cầu chia di sản thừa kế.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tư vấn soạn thảo di chúc và Dịch vụ làm chứng, chứng thực di chúc

2. Mua lại phần thừa kế của các đồng thừa kế như thế nào ?

Xin luật sư vui lòng hướng dẫn giúp tôi vấn đề như sau: Ông nội tôi có 6 người con. Ông mất năm 1993 mà không có di chúc, cha tôi là con trai thứ 4 và mất trước ngày ông nội tôi mất và 1 người con trai thứ 6 ở Canada cũng mới mất năm 2010. Lúc ông nội còn sống có tạo lập được tài sản. Do đó khi ông nội tôi mất thì có 6 phần thừa kế bằng nhau. Nhưng đến nay thì đã quá thời hiệu khởi kiện thừa kế và chuyển thành tài sản chung.
Như vậy xin cho hỏi là nếu tôi chủ động đề nghị với các đồng thừa kế là tôi sẽ dùng tiền để mua lại các phần thừa kế của các đồng thừa kế với giá trị tương xứng thì như vậy có được không, có vi phạm về thừa kế không, còn nếu ra tòa thì yêu cầu của tôi có được tòa án chấp nhận hay không?
Tôi xin cảm ơn luật sư.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại điều 652 Bộ luật Dân sự 2015 về thừa kế thế vị:

Điều 652. Thừa kế thế vị

Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.

Thì do cha bạn mất trước ông nội nên bạn sẽ được hưởng phần di sản do ông nội để lại.

- Trường hợp nếu không yêu cầu tòa án giải quyết thì bạn cùng với các đồng thừa kế khác có thể thực hiện thủ tục khai nhận di sản thừa kế. Do ông nội bạn mất không để lại di chúc nên việc thừa kế sẽ được chia theo pháp luật theo hàng thừa kế theo điều 651 Bộ luật dân sự 2015 như sau:

"

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Khi đã xác định được những người có quyền thừa kế đối với di sản thì những người được thừa kế có thể đến các tổ chức công chứng tại địa phương để thực hiện thủ tục khai nhận di sản thừa kế. Sau khi đã thực hiện xong thủ tục khai nhận di sản thừa kế thì phần tài sản được thừa kế thuộc về mỗi người nên bạn có thể thỏa thuận với các đồng thừa kế về việc mua lại tài sản của các đồng thừa kế đó.

- Trường hợp yêu cầu tòa án giải quyết thì theo khoản 2.4 Phần I Nghị quyết Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình.:

"2.4. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế

a) Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

a.1. Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.

a.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thảo thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.

a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

b) Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản."

Di sản thừa kế trong trường hợp này được coi là tài sản chung khi có 2 điều kiện là không có tranh chấp và phải có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế của các đồng thừa kế. Nếu đáp ứng các điều kiện này thì tòa án sẽ giải quyết và phân chia theo tài sản chung. Khi đã được chia phần di sản thừa kế thì tài sản đó thuộc về mỗi người nên bạn cũng có thể thỏa thuận với họ về việc mua lại phần tài sản đó.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900 6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Hướng dẫn thủ tục lập di chúc phân chia tài sản cho con cháu ? Di chúc viết tay có hợp pháp không ?

3. Lập hồ sơ thừa kế và thủ tục cấp sổ hồng như thế nào ?

Thưa Luật sư! Tôi là H, tôi xin nhờ luật sư tư vấn về trường hợp thừa kế như sau: Gia đình tôi có 7 anh em, 5 trai và 2 gái, cha tôi mất sớm.Trước năm 1993, cha mẹ tôi có khai hoang đất để sinh sống cũng như làm nương rẫy, đến năm 2003 thì được nhà nước cấp GCNQSDĐ với diện tích 942,3. Vào năm 2006 thì mẹ tôi mất đã lập di chúc và để lại thừa kế cho 5 anh em chúng tôi. Nội dung thừa kế được lập ra với nội dung là một nửa thửa đất trên sẽ để lại cho tôi, còn nữa thửa đất còn lại để lại chung cho 5 anh em sau này lập nhà thờ tự.
Vậy đến hôm nay, nhà nước yêu cầu cấp đổi từ sổ đỏ sang sổ hồng, nên tôi không rõ phải lập hồ sơ thừa kế ra sao và thủ tục cấp sổ hồng sẽ được thực hiện như thế nào ?
Kính mong luật sư giải đáp.Trân trọng cám ơn Luật sư, chúc luật sư sức khỏe!

Lập hồ sơ thừa kế và thủ tục cấp sổ hồng như thế nào?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến,gọi số: 1900.6162

Trả lời

Thủ tục cấp sổ hồng sẽ được thực hiện theo Điều 10 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT : Quy định về hồ sơ địa chính quy định như sau:

"Điều 10. Hồ sơ nộp khi thực hiện thủ tục cấp đổi, cấp lại, đính chính, thu hồi Giấy chứng nhận

1. Hồ sơ nộp khi thực hiện thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng gồm có:

a) Đơn đề nghị cấp đổi Giấy chứng nhận theo Mẫu số 10/ĐK;

b) Bản gốc Giấy chứng nhận đã cấp;

c) Bản sao hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất thay cho bản gốc Giấy chứng nhận đã cấp đối với trường hợp cấp đổi Giấy chứng nhận sau khi dồn điền đổi thửa, đo đạc lập bản đồ địa chính mà Giấy chứng nhận đã cấp đang thế chấp tại tổ chức tín dụng.

2. Hồ sơ nộp khi thực hiện thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng do bị mất gồm có:

a) Đơn đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận theo Mẫu số 10/ĐK;

b) Giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc đã niêm yết thông báo mất giấy trong thời gian 15 ngày đối với hộ gia đình và cá nhân; giấy tờ chứng minh đã đăng tin 03 lần trên phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương về việc mất Giấy chứng nhận đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, cá nhân nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện dự án đầu tư; trường hợp mất Giấy chứng nhận do thiên tai, hỏa hoạn phải có giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc thiên tai, hỏa hoạn đó.

...

4. Hồ sơ nộp khi thực hiện thủ tục thu hồi Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đã cấp không đúng quy định của pháp luật đất đai tại Điểm d Khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai theo quy định như sau:

a) Trường hợp người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất phát hiện nội dung Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định thì nộp hồ sơ gồm:

- Đơn phản ánh việc cấp Giấy chứng nhận không đúng quy định;

- Bản gốc Giấy chứng nhận đã cấp;

b) Trường hợp cơ quan nhà nước phát hiện Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định thì người được cấp Giấy chứng nhận nộp Giấy chứng nhận đã cấp theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền."

Thủ tục khai nhận di sản thừa kế theo di chúc được giải đáp chi tiết, bạn có thể tham khảo tại đây "Thủ tục khai nhận di sản thừa kế đối với đất đai"

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Người không biết chữ muốn để lại di chúc thì phải làm thế nào ? Di chúc có phải công chứng ?

4. Tư vấn pháp luật dân sự về thừa kế ?

Chào luật sư! Em mong luật sư tư vấn dùm em vấn đề sau. Cha mất khi em còn nhỏ, mẹ em lấy chồng và cùng cha dượng về nhà ở cùng và nuôi dưỡng em đến khi lớn. Cha dượng và mẹ em có thêm 3 em nữa cùng mẹ khác cha với em. Giờ cha dượng em đã mất, mẹ em vẫn còn và hộ khẩu trong nhà đứng tên chủ hộ là mẹ em và có đầy đủ tên em và các em. Đất đại từ thời ông nội em để lại chỉ có chiết lục đất chứ chưa có sổ đỏ.
Vậy các em cùng cha khác mẹ với em có được quyền thừa kế không ạ?
Mong bác tư vấn dùm em ạ. Em cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Theo dữ liệu bạn đưa ra chúng tôi có thể hiểu: gia đình bạn đang sống ở trên đất mà cha của cha dượng bạn để lại.

Ngoài ra, trong dữ liệu của bạn đưa ra chúng tôi cũng có thể thấy được rằng ông nội không có để lại di chúc do đó trong trường hợp này, di sản ông nội để lại sẽ được chia thừa kế theo pháp luật.

Điều 651 BLDS 2015 quy định:

"

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Như vậy, di sản của ông nội - cha của cha dượng bạn để lại sẽ được chia thừa kế cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất như quy định pháp luật trên.

Tuy nhiên, trong dữ liệu bạn đưa ra bạn lại không nói rõ cha dượng của bạn mất trước hay mất sau ông nội do đó chúng tôi sẽ trao đổi với bạn như sau:

- Nếu như cha dượng của bạn mất sau ông nội thì di sản thừa kế sẽ không được chia cho con của cha dượng.

- Nếu như cha dượng của bạn mất trước ông nội thì di sản thừa kế sẽ được chia cho các con của cha dượng, cụ thể Điều 677 Bộ luật Dân sự quy định:

"Điều 677. Thừa kế thế vị

Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống."

Bạn cũng cần phải lưu ý rằng, con ở đây là con đẻ hay con nuôi được pháp luật thừa nhận chứ không phải con riêng của vợ.

Chào bạn! Gia đình tôi có một thửa đất do ông tôi để lại, nay ông tôi đã mất và không để lại di chúc. Gia đình tôi muốn làm thủ tục để phân chia tài sản thừa kế. Theo tôi được biết thì cơ quan có chức năng làm việc này là Văn phòng công chứng (gd tôi ở tại thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội) nhưng tôi vẫn thấy các trường hợp khác làm công chứng tại UBND các xã mặc dù trên địa bàn thị xã tôi đã có nhiều Văn phòng công chứng. Vậy tôi muốn hỏi, tôi làm thủ tục tại UBND xã có sai ko? hay đặc thù của địa bàn thành phố Hà Nội được phép như thế? Rất mong nhận được câu trả lời của công ty để gd tôi sớm làm thủ tục

=> Hiện tại, trong quy định của pháp luật không có quy định bắt buộc về việc phân chia di sản thực hiện ở cơ quan nào. Do đó, bạn có thể thực hiện việc phân chia di sản ở UBND xã/phường hoặc văn phòng/phòng công chứng theo quy định của Nghị định 23/2015/NĐ-CP Luật Công chứng năm 2014.

Kg Luật sư hợp sau đây có được coi là di chúc hợp pháp không: Vợ chết, chồng làm di chúc cho NGƯỜI GIÚP VIỆC THỪA KẾ TOÀN BỘ TÀI SẢN, KHÔNG CÓ TÊN NGƯỜI CON NÀO. Trường hợp này theo tôi hiểu người vợ chết không để lại di chúc, việc thừa kế sẽ theo pháp luật, TỨC NGOÀI CHỒNG CỦA NGƯỜI ĐÃ CHẾT THÌ CON CỦA NGƯỜI ĐÃ CHẾT ĐƯƠNG NHIÊN CŨNG ĐƯỢC HƯỞNG THỪA KẾ. Người bố di chúc cho NGƯỜI GIÚP VIỆC HƯỜNG TOÀN BỘ TÀI SẢN LÀ VƯỢT QUYỀN Kính mong được hồi âm Trân trọng

=> Dữ liệu bạn đưa ra không đầy đủ do vậy chúng tôi sẽ trao đổi với bạn như sau:

Trường hợp 1: Nếu toàn bộ tài sản là tài sản riêng của người chồng thì người chồng hoàn toàn có quyền định đoạt phần tài sản này. Do đó, việc người chồng để lại di chúc nêu rõ toàn bộ di sản để lại cho người giúp việc thừa kế là hoàn toàn hợp pháp. Tuy nhiên Điều 669 Bộ luật Dân sự quy định:

"Điều 669. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động."

Do đó, nếu người chồng có con chưa thành niên, cha, mẹ hoặc con đã thành niên mà không có khả năng lao động thì những người này vẫn được hưởng di sản thừa kế mà không phụ thuộc vào nội dung di chúc.

Trường hợp 2: Nếu tài sản này là tài sản chung của hai vợ chồng thì khi người vợ chết thì tài sản này sẽ được chia đôi, một nửa của vợ, một nửa của chồng. Như vậy, việc người chồng lập di chúc cho người giúp việc thừa kế toàn bộ tài sản là không đúng theo quy định pháp luật. Người chồng chỉ có quyền lập di chúc cho một phần tài sản của mình và việc di chúc này có được thực hiện hay không sẽ phải áp dụng như theo như trường hợp 1.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Thủ tục nhận thừa kế quyền sử dụng đất như thế nào ? Thời hiệu khởi kiện thừa kế là bao lâu ?

5. Con nuôi có được thừa kế tài sản ?

Kính chào các Quý Luật sư Công ty Luật Minh Khuê. Tôi có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Tôi sinh năm 1973, mẹ nuôi tôi sinh năm 1940. Tôi làm con nuôi của mẹ từ năm 1974 nhưng khi làm khai sinh mẹ khai tôi là con mà không làm giấy chứng nhận nuôi con nuôi.

Do chiến tranh, và ở nông thôn tôi không đi học và hiện nay mẹ nuôi tôi đã qua đời có để lại thửa đất, không có di chúc. Khi tôi làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cần có giấy khai sinh, nhưng tôi không còn bản sao và bản gốc. Ở xã, huyện nơi tôi sinh sống từ nhỏ đến giờ đã mất sổ gốc và có viết giấy xác nhận. Theo hướng dẫn của xã, tôi đã đăng ký lại giấy khai sinh theo hộ khẩu (mẹ khai tôi là con và hộ khẩu chỉ có tên 2 mẹ con).

Vậy trong trường hợp này: giấy khai sinh cấp lại sau khi mẹ tôi qua đời có hợp lệ để tôi hưởng thừa kế từ tài sản mẹ để lại hay không? Vì địa chính yêu cầu tôi phải cung cấp giấy chứng nhận nuôi con nuôi hoặc giấy khai sinh làm lại khi mẹ tôi còn sống. Tôi không hiểu rõ pháp luật mong luật sự giải đáp giúp ?

Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê vào địa chỉ email này. Kính thư.

Người gửi: HV

Con nuôi có được thừa kế tài sản ?

Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế tài sản, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo nguyên tắc phần ghi tên cha, mẹ trong giấy khai sinh của một cá nhân cho biết cha mẹ ruột, người đã sinh ra cá nhân đó; nếu là cha nuôi, mẹ nuôi, con nuôi thì phải ghi chú thích vào giấy khai sinh. Trong trường hợp này, mẹ bạn đã khai bạn là con khi làm giấy khai sinh, đã xác định quan hệ giữa mẹ con ruột thịt không phải quan hệ mẹ nuôi con nuôi với bạn. Theo quy định thì bạn được thừa kế tài sản mà mẹ bạn để lại. Khoản 1 điều 651(Bộ luật dân sự năm 2015) quy định:

"

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

"

Giấy khai sinh được cấp lại sau khi mẹ bạn qua đời đủ hợp lệ để bạn hưởng thừa kế tài sản mà mẹ bạn để lại. Việc cơ quan nhà nước yêu cầu bạn cung cấp giấy chứng nhận nuôi con nuôi hoặc giấy khai sinh là để xác định bạn có phải người thừa kế hay không.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quyền thừa kế quyền sử dụng đất là gì ? Bản họp gia đình phân chia tài sản thừa kế có ý nghĩa gì ?