1. Có được lập di chúc phân chia di sản thừa kế đất đai ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Em có việc nhờ luật sư tư vấn ạ.mẹ em bệnh nặng nên muốn viết di chúc để lại mảnh đất chia đều cho các con.lúc đầu đất chỉ đứng tên mẹ em nhưng khi làm lại sổ mới thì có tên cả cha dượng em nữa.mẹ em va cha dượng không có đăng kí kết hôn.trong sổ hộ khẩu hiện nay chỉ có tên mẹ,cha dượng,em và con trai em.cha dượng không muốn chia cho tụi em vì là con riêng.
Vậy trong trường hợp này mẹ em có thể làm di chúc để lại phần của mẹ cho các con không và nếu đưa ra pháp luật thì những anh chị đã tách ra khỏi sổ hộ khẩu có được hưởng không? vì cha dượng chỉ muốn để cho con trai thôi còn tụi em thì không được hưởng.mẹ em đang rất lo về viêc này. Mong luật sư tư vấn giùm em. Mẹ em đã viết một bản viết tay nhưng bên xã nói là không có giá trị, gìờ mẹ em phải lập di chúc như thế nào mới được?

>> Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Tại khoản 16 Điều 3 Luật đất đai 2013 quy định như sau:

“Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất".

Trong trường hợp này của bạn, theo thông tin bạn cung cấp thì mẹ bạn và cha dượng của bạn không có đăng ký kết hôn nên diện tích đất đứng tên cha dượng bạn và mẹ bạn không được xác định là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Do cha dượng bạn cũng có tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên về nguyên tắc cha dượng bạn sẽ được xác định với tư cách là đồng sở hữu đối với diện tích đất, theo đó đây là trường hợp sở hữu chung theo phần. Vì vậy, khi mẹ bạn muốn lập di chúc định đoạt quyền sử dụng đất thì chỉ được lập di chúc để phân chia đối với phần đất thuộc sở hữu của mình, đối với phần đất thuộc sở hữu của cha dượng bạn ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì không được định đoạt. Đối với phần diện tích đất thuộc quyền sử dụng của mẹ bạn, mẹ bạn hoàn toàn có quyền lập di chúc để lại đất cho các con, theo đó nếu di chúc được lập này là hợp pháp thì việc phân chia di sản sẽ được thực hiện theo đúng ý chí của mẹ bạn xác định trong di chúc. Trường hợp nếu mẹ bạn muốn lập di chúc để chia đều toàn bộ diện tích đất này cho các con thì cần có sự thỏa thuận với cha dượng của bạn.

Vấn đề bạn hỏi: nếu đưa ra pháp luật thì những anh chị đã tách ra khỏi sổ hộ khẩu có được hưởng không?

Theo quy định Bộ luật luật dân sự, tại Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Như vậy, trong trường hợp chia thừa kế theo pháp luật, di sản thừa kế sẽ được phân chia cho những người thừa kế theo quy định nêu trên mà không phụ thuộc vào việc người đó đã tách ra khỏi hộ khẩu hay không. Như vậy nếu anh chị của bạn thuộc hàng thừa kế theo quy định tại Bộ luật dân sự thì sẽ đưởng hưởng di sản thừa kế theo quy định của pháp luật.

Đối với vấn đề lập di chúc hợp pháp, bạn và mẹ bạn có thể tham khảo các quy định của Bộ luật dân sự 2015, theo đó,

"Điều 630. Di chúc hợp pháp

1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng."

Như vậy, để lập di chúc hợp pháp mẹ bạn có thể lập di chúc bằng văn bản, hoặc di chúc miệng, trường hợp di chúc miệng thì cần có ít nhất hai người làm chứng cùng ký tên, điểm chỉ. Về người làm chứng: người không được làm chứng bao gồm các đối tượng sau:

"1. Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.

2. Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc.

3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi."

Trường hợp lập chi chúc bằng văn bản thì nội dung di chúc phù hợp với quy định tại Điều 631 Bộ luật Dân sự 2015:

Điều 631. Nội dung của di chúc

1. Di chúc gồm các nội dung chủ yếu sau:

a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;

b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;

c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;

d) Di sản để lại và nơi có di sản.

2. Ngoài các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, di chúc có thể có các nội dung khác.

3. Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.

Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa."

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài điện thoại

2. Chia di sản thừa kế khi không có di chúc ?

Chào luật sư, Gia đình tôi có 5 anh chị em, nhà có 10 công đất và 1 cái nhà thuộc tài sản chung của cha mẹ.Chỉ có người anh có gia đình ở chung.Tên giấy đất sổ đỏ người cha đứng tên. Năm 2014 cha mẹ tôi qua đời không để lại di chúc. Sổ đỏ thì cha tôi đứng tên, anh em thì ở xa. Cho tôi hỏi :

1. Anh tôi có thể đứng tên sổ đỏ được không nếu chúng tôi không có sự đồng ý của anh em chúng tôi ?

2. Nếu chia tài sản thì chia làm sao?

Xin cám ơn .

Người hỏi: Hùng

Luật sư tư vấn:

Theo thông tin bạn cung cấp thì bố mẹ bạn cùng mất năm 2014. Như vậy phần tài sản chung của bố mẹ bạn sẽ được chia đôi và chia theo pháp luật:

Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định :

"Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Nếu không còn người thừa kế nào khác ngoài ngoài 5 anh chị em bạn thì phần di sản của bố mẹ sẽ được chia đều cho 5 anh chị em bạn.

Vì vậy trong trường hợp này anh em bạn phải làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế tại Văn phòng công chứng và văn phòn công chứng sẽ tiến hành thủ tục công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế của bố mẹ bạn.

Khoản 2 Điều 660 BLDS 2015 quy định:

"2. Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người nhận hiện vật; nếu không thỏa thuận được thì hiện vật được bán để chia."

Nếu không có sự đồng ý của những người thừa kế còn lại anh bạn không thể đứng tên trên sổ đỏ được vì đây là di sản thừa kế mà anh em bạn được hưởng. Điều 218 BLDS quy định:

"Điều 218. Định đoạt tài sản chung

1. Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền định đoạt phần quyền sở hữu của mình.

2. Việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thỏa thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật.

3. Trường hợp một chủ sở hữu chung theo phần bán phần quyền sở hữu của mình thì chủ sở hữu chung khác được quyền ưu tiên mua.

Trong thời hạn 03 tháng đối với tài sản chung là bất động sản, 01 tháng đối với tài sản chung là động sản, kể từ ngày các chủ sở hữu chung khác nhận được thông báo về việc bán và các điều kiện bán mà không có chủ sở hữu chung nào mua thì chủ sở hữu đó được quyền bán cho người khác. Việc thông báo phải được thể hiện bằng văn bản và các điều kiện bán cho chủ sở hữu chung khác phải giống như điều kiện bán cho người không phải là chủ sở hữu chung.

Trường hợp bán phần quyền sở hữu mà có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua thì trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày phát hiện có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua, chủ sở hữu chung theo phần trong số các chủ sở hữu chung có quyền yêu cầu Tòa án chuyển sang cho mình quyền và nghĩa vụ của người mua; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại.

4. Trường hợp một trong các chủ sở hữu chung đối với bất động sản từ bỏ phần quyền sở hữu của mình hoặc khi người này chết mà không có người thừa kế thì phần quyền sở hữu đó thuộc về Nhà nước, trừ trường hợp sở hữu chung của cộng đồng thì thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu chung còn lại.

5. Trường hợp một trong các chủ sở hữu chung đối với động sản từ bỏ phần quyền sở hữu của mình hoặc khi người này chết mà không có người thừa kế thì phần quyền sở hữu đó thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu còn lại.

6. Trường hợp tất cả các chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình đối với tài sản chung thì việc xác lập quyền sở hữu được áp dụng theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật này."

Ngoài ra, để thuận lợi trong việc sử dụng và định đoạt tài sản thì tất cả anh em bạn có thể thỏa thuận để cho anh trai bạn quản lý, sử dụng và định đoạt trong phạm vi cho phép. Việc thỏa thuận phải được lập thành văn bản có quy định rõ về quyền hạn đối với người quản lý và có chữ kí của tất cả mọi người.

>> Xem thêm:  Thời điểm có hiệu lực của di chúc chung vợ chồng là khi nào ? Di chúc miệng có hiệu lực không ?

3. Cách chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất khi không có di chúc ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Từ sau 1975 cha tôi có chỉ định cho tôi canh tác trồng lúa thửa đất 2200m2 để thờ cúng cho đến nay . Cha mẹ tôi có 6 người con đều được chia đất xong cả. Cha tôi mất 2013 hiện giờ các anh em tôi đòi chia phần đất hương quả. Cha tôi chỉ định bằng miệng trước mặt anh em tôi, chứ không có di chúc. Nay người em tôi kiện tôi ra tòa đòi chia phần kể trên.

Vậy đúng không ? và chia như thế nào ?

Xin được Luật sư giúp đỡ.

Luật sư tư vấn:

Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

"Điều 645. Di sản dùng vào việc thờ cúng

1. Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng.

Trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử người quản lý di sản thờ cúng.

Trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật.

2. Trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng."

BLDS cũng quy định: Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực.

Luật Đất đai 2013Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định:

"Điều 101. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất."

Thứ nhất, gia đình bạn sử dụng đất ổn định từ năm 1975 cho đến nay và đất đó thuộc sở hữu của bố bạn, bạn không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo quy định nêu trên của luật Đất đai bạn được quyền đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thửa đất đã sử dụng ổn định trước đó.

Thứ hai, theo quy định của BLDS nêu trên, di sản dùng vào việc thờ cúng thì không được chia. Tuy nhiên về hình thức di chúc là di chúc miệng nhưng không đáp ứng được các điều kiện hợp pháp của di chúc miệng, do đó di chúc này không có hiệu lực pháp luật.

Bố bạn có chỉ định cho bạn được sử dụng thửa đất đó, và nêu rõ mục đích đất được sử dụng vào việc thờ cúng. Từ những phân tích trên cho thấy trường hợp này có hay không có di chúc thì thửa đất đó vẫn thuộc sở hữu hợp pháp của bạn, bạn phải thực hiện di nguyện của bố bạn mà không phải chia cho những thừa kế khác.

Thưa luật sư, xin hỏi: Gia đình tôi muốn mua 01 mảnh đất, chủ đất là hộ ông đã mất năm 2013. Tại thời điểm cấp sổ năm 2003 hộ ông có 06 người con trong sổ hộ khẩu và 02 vợ chồng ông. Hiện nay vợ và các con ông muốn bán mảnh đất trên thì thủ tục thừa kế sang tên...gồm những giấy tờ gì, cấp chính quyền xã cần xác nhận những gì, thủ tục mất bao nhiêu thời gian ? Mong luật sư giúp đỡ!

Thứ nhất, xác định di sản thừa kế.

Tại thời điểm cấp sổ đỏ năm 2003 sổ đỏ được cấp cho hộ gia đình hay cấp cho cá nhân. Nếu cấp cho cá nhân thì sau khi ông này mất, di sản thừa kế là quyền sử dụng thửa đất đã cấp và được đem chia cho những người thừa kế (gồm vợ và 06 người con), nếu không có di chúc thì được chia theo pháp luật.

Nếu sổ đỏ cấp năm 2003 là cấp cho hộ gia đình thì những người trong hộ là đồng sở hữu. Di sản thừa kế chỉ là phần đất thuộc sở hữu của ông này.

Thứ hai, về việc bán thửa đất.

Từ phân tích nêu trên, cho dù là toàn bộ mảnh đất hay 1 phần mảnh đất được coi là di sản thừa kế thì khi bán cho người khác phải được sự đồng ý của tất cả những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tới mảnh đất đó. Tức là nếu toàn bộ quyền sử dụng thửa đất là di sản thừa kế thì các đồng thừa kế phải cùng ký vào văn bản đồng ý bán đất. Nếu sổ đỏ được cấp cho hộ thì các đồng sở hữu cũng cần đồng ý bằng văn bản về việc bán đất và thỏa thuận không chia di sản thừa kế.

Theo khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013, các loại hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất phải được công chứng, chứng thực gồm: Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Ngoài ra, văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cũng cần được công chứng hoặc chứng thực theo quy định.

Để công chứng hợp đồng mua bán nhà đất bên mua và bên bán tự chuẩn bị các hồ sơ, giấy tờ sau:

- Bản chính giấy tờ nhà đất (Giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc bản sao giấy tờ thay thế được pháp luật quy định đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng trong trường hợp hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản đó;

- Giấy chứng minh nhân dân/ hộ chiếu (còn thời hạn sử dụng: chứng minh không quá 15 năm và Hộ chiếu không quá 10 năm kể từ ngày cấp) của 2 bên mua bán.

- Sổ hộ khẩu của 2 bên.

- Giấy đăng ký kết hôn (trường hợp đã kết hôn); hoặc Giấy xác nhận độc thân (trường hợp đang độc thân hoặc đã ly hôn);

- Trong trường hợp có uỷ quyền thì văn bản uỷ quyền phải được công chứng và người được uỷ quyền cũng phải mang bản chính Giấy chưng minh nhân dân/ hộ chiếu và Sổ hộ khẩu;

- Bản chính các giấy tờ khác có liên quan đến thửa đất như tờ khai đã nộp thuế,… (nếu có).

- Hợp đồng chuyển nhượng.

Sau khi thực hiện các bước trên, người sử dụng đất nộp 01 bộ hồ sơ tại văn phòng đăng ký đất đai cấp huyện nơi có đất để thực hiện việc sang tên và cấp GCNQSDĐ.

Thời gian thực hiện thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất; cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là không quá 30 ngày;

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến về đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất

4. Phân chia di sản thừa kế theo di chúc là quyền sử dụng đất ?

Thưa Luật sư, lời đầu tiên cho tôi gửi lời chúc sức khỏe, hạnh phúc tới toàn thể Quý công ty. Tôi tên là Ngọc, hiện tôi đang sống tại Hạ Long, Quảng Ninh. Tôi có một vấn đề rất cần sự tư vấn của Văn phòng luật sư. Bố tôi lấy mẹ tôi là vợ thứ 2 sau khi đã ly dị người vợ đầu tiên.

Bố tôi có với người vợ đầu 2 người con: 1 trai , 1 gái. Sau đó sinh với mẹ tôi được chị em tôi. Sống với nhau được khoảng 8 năm thì bố mẹ tôi ly thân, mẹ tôi dẫn chị em tôi về nhà bà ngoại tôi. Bố tôi đi lấy người vợ thứ 3 có hai người con trai nhưng chưa ly hôn với mẹ tôi. Tuy mẹ tôi ly thân bố tôi và bố có vợ mới nhưng bà nội tôi trước khi mất đã viết di chúc cho mẹ tôi và 2 anh chị con của bố tôi ngôi nhà và mảnh đất ở ngôi nhà đó rộng gần 600m2. Tuy nhiên ngôi nhà đó bố tôi, vợ 3, 2 em trai vẫn ở. Một khoảng thời gian bố tôi có đi làm sổ đỏ xã cấp sổ đỏ cho bố tôi 1 sổ và anh trai lớn của bố tôi 1 sổ. Khi bố tôi mất đi bố đưa sổ của bố tôi cho 2 con trai, còn sổ kia cho anh trai tôi.

Cho tôi hỏi bây giờ nhà tôi muốn chia mảnh đất đó thì mẹ tôi và chị em tôi được quyền thừa hưởng như thế nào?

Rất mong nhận được sự tư vấn của Luật sư. Mọi sự tư vấn vui lòng gửi vào mail của tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Có được lập di chúc phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất thuộc sở hữu chung theo phần ?

Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật dân sự về thừa kế, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 609 Bộ luật dân sự 2015 thì:

Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc.”.

Trong trường hợp tài sản là đất thì phải tuân theo pháp luật về đất đai

Với trường hợp của bạn, bạn không cung cấp rõ thông tin về vấn đề bà nội của bạn có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có các giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất đối với diện tích đất để lại hay không. Theo quy định pháp luật đất đai hiện hành (Luật đất đai 2013), cụ thể tại Điều 188 quy định như sau:

Điều 188. Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất.

2. Ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này, người sử dụng đất khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn phải có đủ điều kiện theo quy định tại các điều 189, 190, 191, 192, 193 và 194 của Luật này.

3. Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính”.

Căn cứ quy định trên, việc lập di chúc của bà bạn sẽ chỉ là hợp pháp nếu bà bạn - người lập di chúc có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hoặc có một trong các giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất được quy định tại Điều 100 Luật đất đai. Như vậy, trong trường hợp này nếu bà bạn không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cũng không có các giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất, đất đai có tranh chấp, không đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phần di chúc đối với diện tích đất này là không phù hợp với quy định của pháp luật, và sẽ được xác định là vô hiệu. Tuy nhiên, nếu bà nội bạn lập di chúc khi bà bạn đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích đất đã được sử dụng ổn định, lâu dài không có tranh chấp, đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật thì di chúc được đã lập được xác định là hợp pháp.

Về vấn để chia diện tích đất theo di chúc của bà bạn để lại:

Trong trường hợp bố bạn đã đi làm sổ đỏ và được xã cấp sổ đỏ cho bố bạn và anh trai cả của bạn. Theo quy định pháp luật thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất của người có quyền sử dụng đất. Như vậy, nếu bố bạn đã làm sổ đỏ rồi thì người có quyền sử dụng đất được xác định là bố bạn và anh trai của bạn. Trong trường hợp này để có thể thực hiện việc chia di sản thừa kế, bạn hoặc mẹ bạn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bố và anh trai bạn, trong trường hợp này bạn cần có các giấy tờ cần thiết: giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy tờ chứng mình nguồn gốc, quyền sử dụng đất thuộc bà nội bạn. Sau khi giải quyết xong vấn đề này thì mới có thể tiến hành việc chia thừa kế.

Nếu di chúc mà bà nội bạn để lại là hợp pháp theo quy định pháp luật dân sự, thì việc chia di sản thừa kế là diện tích đất này sẽ được thực hiện theo quy định tại Bộ luật dân sự 2015, cụ thể:

Điều 659. Phân chia di sản theo di chúc

1. Việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc; nếu di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế thì di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp di chúc xác định phân chia di sản theo hiện vật thì người thừa kế được nhận hiện vật kèm theo hoa lợi, lợi tức thu được từ hiện vật đó hoặc phải chịu phần giá trị của hiện vật bị giảm sút tính đến thời điểm phân chia di sản; nếu hiện vật bị tiêu hủy do lỗi của người khác thì người thừa kế có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.

3. Trường hợp di chúc chỉ xác định phân chia di sản theo tỷ lệ đối với tổng giá trị khối di sản thì tỷ lệ này được tính trên giá trị khối di sản đang còn vào thời điểm phân chia di sản.”.

Như vậy trong trường hợp này, nếu mẹ bạn và bạn được chỉ định là người thừa kế theo di chúc bà nội bạn đã lập thì sẽ được hưởng phần di sản thừa kế theo ý chí của bà nội bạn đã ghi trong di chúc. Theo như bạn có cung cấp, bà bạn viết di chúc để lại đất cho mẹ bạn và 2 anh chị con của bố bạn ngôi nhà và mảnh đất ở ngôi nhà đó rộng gần 600m2 thì mẹ bạn và hai người con của bố bạn sẽ là người được hưởng thừa kế ngôi nhà và diện tích đất này. Trong trường hợp di chúc bà bạn để lại không xác định rõ phần thừa kế của từng người thừa kế này thì phần di sản là diện tích đất và ngôi nhà sẽ được chia đều cho mỗi người thừa kế, mẹ bạn cung có thể thỏa thuận với hai anh chị là con của bố bạn về phân chia diện tích đất và ngôi nhà này.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Thủ tục nhận thừa kế từ những người thừa kế ?

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư giải quyết các tranh chấp về thừa kế

5. Thủ tục phân chia di sản thừa kế ?

Thưa luật sư, trong một gia đình có sự tranh chấp về phân chia di sản do cha mẹ để lại, trong đó có con gái riêng của người bố, đã có gia đình và ở riêng. Khi chia di sản người chồng muốn chia di sản cho người con riêng đó (cụ thể là đất đai) mà không được sự đồng ý của người vợ.
Vậy người chồng có quyền quyết định cho người con đó không ?
Mong nhận được giải đáp sớm nhất có thể. Xin cảm ơn!

Thủ tục phân chia di sản thừa kế ?

Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Trường hợp bạn đưa ra, chúng ta phải xác định tư cách của người vợ.

- Trường hợp 1: người vợ với tư cách là con dâu của người đã qua đời. Nếu với tư cách là con dâu, người vợ không có quyền thể hiện ý chí trong việc phân chia di sản của bố chồng. Bởi theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, con dâu không thuộc diện thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản thừa kế.

- Trường hợp 2: người vợ thuộc diện thừa kế, là người trong hàng thừa kế thứ nhất của người bố đã qua đời. Trong trường hợp này, người vợ cũng không có quyền thể hiện ý chí trong việc phân chia di sản thừa kế. Bởi việc phân chia di sản thừa kế theo pháp luật phải tuân theo quy định của pháp luật hoặc sự thỏa thuận của các đồng thừa kế. Nếu giữa các đồng thừa kế không thỏa thuận được, thì phải áp dụng quy định của pháp luật. Người con gái riêng của người bố đã qua đời là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất nên sẽ được hưởng di sản thừa kế mà không phụ thuộc vào việc những người thừa kế cùng hàng thừa kế có đồng ý cho hưởng hay không.

Người vợ trong trường hợp của bạn dù ở tư cách nào trong 2 trường hợp nói trên cũng không có quyền thể hiện ý chí trong việc phân chia di sản thừa kế. Bởi việc định đoạt tài sản là thuộc về chủ sở hữu tài sản - người để lại di sản thừa kế. Trường hợp thừa kế theo pháp luật, việc phân chia di sản thừa kế do các đồng thừa kế thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì áp dụng quy định của pháp luật. Một người thừa kế có được hưởng di sản hay không không phụ thuộc vào việc những đồng thừa kế khác có cho hưởng hay không.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn Pháp luật Thừa Kế - Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn lập, viết, soạn thảo di chúc và quy định về di chúc trực tuyến qua tổng đài