Chào quý khách! cảm ơn quý khách hàng đã gửi câu hỏi về hộp thư tư vấn của chúng tôi, Vấn đề quý khách đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

I. Cơ sở pháp lý

- Luật hôn nhân gia đình 2014

 Nghị định 123/2015/NĐ-CP

II. Nội dung

Xin chào luật sư ! Nhờ luật sư tư vấn giúp e. E có người cô có chồng nhưng ở rể, hôn nhân không được hạnh phúc người chồng thương xuyên cãi nhau, cô muốn li hôn nhưng tài sản là của mẹ cô ấy cho, nhà cửa xây là toàn tiền của cô làm ruộng để dành rồi xây chứ người chồng không bỏ tiền vô. Vậy nếu li hôn tài sản có bị chia đôi không ạ. E cám ơn !

Điều 59 Luật HNGĐ quy định như sau

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

>> Xem thêm:  Tư vấn quyền nuôi con khi ly hôn theo quy định mới năm 2020 ?

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

Quy định về tài sản chung, tài sản riêng như sau:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.

Như vậy, nếu như có căn cứ chứng minh về việc tặng cho các tài sản từ bà nội của bạn cho cô bạn thì nó được coi là tài sản riêng của cô bạn, khi ly hôn, tài sản đó vẫn thuộc về cô bạn và không phải chia đôi. Đối với việc chia tài sản chung cũng xét đến các yếu tố:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

Theo đó, Tòa án sẽ căn cứ vào sự đóng góp của ông chồng mà quyết định phần được hưởng của người đó. Căn cứ vào thông tin bạn cung cấp thì cô của bạn sẽ được hưởng phần nhiều hơn. Tuy nhiên, cô của bạn phải đưa ra được chứng cứ chứng minh cho các thông tin này là đúng sự thật.

Xin gửi tới các luật sư công ty Luật Minh Khuê Đầu tiên tôi xin gửi tới các luật sư lời chúc sức khỏe ! Tôi đang gặp vấn đề vợ tôi ngoại tình . Giờ tôi muốn bảo vệ tài sản để lo co các con của tôi trong trường hợp xấu nhất . Về tài sản: đất tôi mua trước hôn nhân , nhà thì xây sau khi kết hôn , nếu tôi bán nhà trong trường hợp vợ tôi không đồng ý ký thì tôi có bán được không và nếu như vậy có cách nào tôi có thể bán được . Giờ tôi tính bán đi để chuyển chỗ ở và còn lại một phần tiền tôi giữ để lo cho các con . Phần tiền tôi giữ đó có bị tranh chấp được không . Những trường hợp nào thì tài sản sau hôn nhân là của riêng vợ hoặc chồng , tiền trong tài khoản có gọi là tài sản riêng không , thưa các luật sư . Mong các luật sư giành it thời gian tư vấn giúp tôi . Xin chân thành cảm ơn các luật sư !

Tại Điều 33 và Điều 43 Luật HNGĐ đã quy định rõ tài sản nào là tài sản chung, tài sản nào là tài sản riêng của vợ, chồng, bạn có thể tham khảo. Theo đó, tiền trong tài khoản của bạn là tài sản chung vì nó không được thỏa thuận là tài sản riêng.

Vì mảnh đất là do bạn mua trước thời kỳ hôn nhân, bạn lại không nêu cụ thể là bạn và vợ có thỏa thuận coi đó là tài sản chung hay không nên chúng tôi không thể tư vấn cụ thể. Nếu bạn thỏa thuận đó là tài sản chung, thì việc bán nhà đất cần có sự đồng ý của vợ bạn theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 35 Luật HNGĐ. Để có thể bán được ngôi nhà, bạn có thể tiến hành chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân như sau:

"Điều 38. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này."

Theo đó, bạn có thể yêu cầu Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung, Tòa án sẽ căn cứ vào Điều 59 để phân chia tài sản. Theo thông tin của bạn thì vợ bạn đi ngoại tình, mảnh đất là do bạn mua trước khi kết hôn, vợ bạn đã vi phạm nghĩa vụ của người vợ, vì thế, Tòa án có thể sẽ phân chia tài sản là ngôi nhà đó cho bạn, khi đó, bạn có quyền bán nhà, số tiền còn lại cũng thuộc quyền quyết định của bạn.

Kính gửi luật sư, Tôi có nhu cầu mua nhà riêng sau hôn nhân. Nhưng vì không có tiền sẵn nên tôi phải mượn gia đình mình (mẹ và các chị) phần lớn giá trị căn nhà. Còn thiếu 1 ít tôi mượn ngân hàng và sẽ trả góp hằng tháng bằng lương cố định và ổn định của tôi. Chồng tôi không có đóng góp gì trong căn nhà này. Vậy tôi xin hỏi tôi có thể sở hữu nhà này như tài sản riêng sau hôn nhân được không ạ?? Nếu được thì thủ tục như thế nào ạ?? Chân thành cảm ơn luật sư! Mong hồi âm! 

Khoản 1 Điều 33 quy định như sau:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng."

>> Xem thêm:  Hướng dẫn viết đơn xin ly hôn như thế nào ? Giải quyết tranh chấp tài sản sau ly hôn ?

Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

Như vậy, nếu như bạn chứng minh được ngôi nhà đó bạn có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng của bạn thì đó sẽ là tài sản riêng của bạn. Khi đó, bạn phải chứng minh được việc bạn vay mượn số tiền từ người thân và ngân hàng, chồng bạn không biết gì và đó là những giao dịch của mình bạn.

Kính chào Luật sư: Tôi có 1 vấn đề rất mong luật sư giải đáp giúp : Cha tôi có 1 người anh ruột ( tôi gọi bằng Bác), năm nay đã ngoài 70 tuổi và cũng không có tài sản gì, Người bác có 3 người con ( Vợ đã ly hôn). Hiện tại người bác đó đang sống tại nhà tôi ( đến nay đã được 3 năm) và có tên trong hộ khẩu của nhà tôi. 3 người con đã lớn có điều kiện kinh tế ổn định, nhưng suốt 3 năm nay không có trợ cấp gì hỗ trợ gia đình tôi trong việc nuôi dưỡng. Hiện tại kinh tế gia đình tôi gặp khó khăn nên không thể nuôi dưỡng người bác này nữa vậy tôi xin hỏi Luật sư : 1. Gia đình tôi có trách nhiệm phải nuôi người bác này suốt đời không? 2. Ba người con của Bác tôi có phải có trách nhiệm nuôi dưỡng, cấp dưỡng không? Và có vi phạm pháp luật không? 3. Trong trường hợp nếu phải bán đất của gia đình thì có phải chia cho người bác có tên trong hộ khẩu không? Hoặc nếu cha tôi chết mà không để lại di chúc thì phần tài sản của gia đình có phải chia cho người bác này không? ( P/S :ngày trước ông nội đã chia tài sản cho người bác này rồi nhưng đã bán và xài hết) Rất mong quý Luật sư giải đáp giúp. Trân trọng! --

1. Nghĩa vụ cấp dưỡng

Điều 107 Luật HNGĐ quy định như sau:

Điều 107. Nghĩa vụ cấp dưỡng

1. Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này.

Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.

2. Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng trốn tránh nghĩa vụ thì theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 119 của Luật này, Tòa án buộc người đó phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật này.

Theo đó, có thể có nghĩa vụ cấp dưỡng giữa bố bạn với bác bạn, hoặc giữa bạn với bác bạn. Tuy nhiên, Luật HNGĐ cũng quy định rõ các trường hợp đấy như sau:

Điều 112. Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa anh, chị, em

Trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để cấp dưỡng cho con thì anh, chị đã thành niên không sống chung với em có nghĩa vụ cấp dưỡng cho em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; em đã thành niên không sống chung với anh, chị có nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh, chị không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Điều 114. Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột

1. Cô, dì, chú, cậu, bác ruột không sống chung với cháu ruột có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người khác cấp dưỡng theo quy định của Luật này.

>> Xem thêm:  Quyền lợi của vợ và con khi vợ chồng ly hôn ? Ly hôn khi mắc bệnh lây nhiễm từ chồng ?

2. Cháu đã thành niên không sống chung với cô, dì, chú, cậu, bác ruột có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cô, dì, chú, cậu, bác ruột trong trường hợp người cần được cấp dưỡng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người khác cấp dưỡng theo quy định của Luật này.

Theo đó, bác bạn có 03 người con và họ đều có điều kiện kinh tế ổn định, thì họ có nghĩa vụ phải cấp dưỡng cho bác của bạn. Gia đình bạn không có nghĩa vụ cấp dưỡng đối với bác bạn trong trường hợp này.

2./ Nghĩa vụ của 03 người con: Điều 111 Luật HNGĐ quy định rõ như sau;

Điều 111. Nghĩa vụ cấp dưỡng của con đối với cha, mẹ

Con đã thành niên không sống chung với cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha, mẹ trong trường hợp cha, mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Theo đó, 03 người con của bác bạn có nghĩa vụ cấp dưỡng cho bác bạn, vì bác bạn đã 70 tuổi và không có tài sản gì.Việc không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng đã vi phạm quy định pháp luật. Theo KHoản 2 Điều 107 thì: "2. Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng trốn tránh nghĩa vụ thì theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 119 của Luật này, Tòa án buộc người đó phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật này." Vì vậy, gia đình bạn có thể thay bác bạn yêu cầu Tòa án buộc 03 người con của bác thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng với bác.

3./ Vì tài sản này thuộc tài sản của gia đình nhà bạn, người bác chỉ là sống nhờ ở đó, nên quyền sử dụng và đinh đoạt vẫn thuộc về gia đình bạn. Nếu như gia đình bạn tiến hành bán mảnh đất đó thì không phải chia cho bác bạn. Nếu như bố bạn mất mà không để lại di chúc thì tài sản của bố bạn chia theo pháp luật cũng không phải chia cho bác bạn. Vì bác bạn không thuộc hàng thừa kế theo pháp luật và bố bạn không có nghĩa vụ cấp dưỡng đối với bác bạn. 

Gửi Luật sư, Hiện tại tôi và chồng đã ly hôn. Thông qua một người bạn tôi biết được chồng cũ đã làm giả mẫu tóc để xét nghiệm AND cho ra kết quả là con chung của chúng tôi không phải là con của chồng cũ tôi. Tôi muốn hỏi tôi có thể kiện chồng cũ vì tội giả mạo và tước quyền làm cha cũng như thay đổi họ cho con tôi sang họ của tôi được không? Thủ tục như thế nào? Hoặc yêu cầu chồng tôi tự nguyện từ bỏ quyền làm cha và đổi họ cho con như thế nào? Xin cảm ơn!

Điều 85 Luật HNGĐ quy định như sau:

Điều 85. Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên

1. Cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp sau đây:

a) Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;

b) Phá tán tài sản của con;

>> Xem thêm:  Làm thể nào để mở trung tâm cai nghiện ma túy ? Đăng hình ảnh sử dụng ma túy có phạm luật ?

c) Có lối sống đồi trụy;

d) Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

2. Căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 86 của Luật này ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm. Tòa án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này.

Trong trường hợp này, đây là quyền nhân thân, nên bạn không thể tước bỏ quyền làm cha hay quyền có cha của con bạn được, bạn chỉ có thể yêu cầu Tòa án hạn chế quyền làm cha của chồng cũ bạn nếu rơi vào các trường hợp kể trên. Về việc thay đổi họ cho con, pháp luật quy đinh như sau:

Điều 27 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ, tên trong trường hợp […] thay đổi họ cho con từ họ của cha sang họ của mẹ hoặc ngược lại” .Bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền thay đổi họ cho con từ tên cha sang tên mẹ., tuy nhiên,việc đổi tên này cần có sự đồng ý của chồng bạn.

Luật hộ tịch 2014 quy định như sau:

Điều 26. Phạm vi thay đổi hộ tịch

1. Thay đổi họ, chữ đệm và tên của cá nhân trong nội dung khai sinh đã đăng ký khi có căn cứ theo quy định của pháp luật dân sự.

2. Thay đổi thông tin về cha, mẹ trong nội dung khai sinh đã đăng ký sau khi được nhận làm con nuôi theo quy định của Luật nuôi con nuôi.

Điều 27. Thẩm quyền đăng ký thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch

>> Xem thêm:  Điều kiện để được ly hôn đơn phương là gì ? Cách viết đơn ly hôn đơn phương

Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú của cá nhân có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho người chưa đủ 14 tuổi; bổ sung hộ tịch cho công dân Việt Nam cư trú ở trong nước.

Điều 28. Thủ tục đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch

1. Người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy tờ liên quan cho cơ quan đăng ký hộ tịch.

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy việc thay đổi, cải chính hộ tịch là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật dân sự và pháp luật có liên quan, công chức tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.

Trường hợp thay đổi, cải chính hộ tịch liên quan đến Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn thì công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung thay đổi, cải chính hộ tịch vào Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn.

Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 03 ngày làm việc.

3. Trường hợp đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch không phải tại nơi đăng ký hộ tịch trước đây thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Ủy ban nhân dân nơi đăng ký hộ tịch trước đây để ghi vào Sổ hộ tịch.

Trường hợp nơi đăng ký hộ tịch trước đây là Cơ quan đại diện thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Bộ Ngoại giao để chuyển đến Cơ quan đại diện ghi vào Sổ hộ tịch.

Điều 7 nghị định 123/2015/NĐ-CP cũng quy định như sau:

"Điều 7. Điều kiện thay đổi, cải chính hộ tịch

>> Xem thêm:  Những vấn đề cần lưu ý để giải quyết khi chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ) ?

1. Việc thay đổi họ, chữ đệm, tên cho người dưới 18 tuổi theo quy định tại Khoản 1 Điều 26 của Luật Hộ tịch phải có sự đồng ý của cha, mẹ người đó và được thể hiện rõ trong Tờ khai; đối với người từ đủ 9 tuổi trở lên thi còn phải có sự đồng ý của người đó."

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Bộ phận tư vấn Luật hôn nhân gia đình - Công ty Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn đơn phương trực tuyến qua tổng đài điện thoại