1. Cơ quan lãnh sự là gì?

Cơ quan lãnh sự là Cơ quan quan hệ đối ngoại của một nước tại nước ngoài thực hiện các chức năng lãnh sự trong khu vực lãnh thổ nhất định trên cơ sở thỏa thuận giữa các quốc gia hữu quan. Cơ quan lãnh sự gồm: Tổng lãnh sự quán, Lãnh sự quán, Phó lãnh sự quán và Đại lý lãnh sự quán. Khu vực lãnh thổ mà cơ quan lãnh sự thực hiện chức năng của mình gọi là khu vực lãnh sự. Khu vực lãnh sự do hai nước hữu quan thoả thuận, được xác định trong hiệp định lãnh sự hoặc trong biên bản thoả thuận và được ghi trong bằng lãnh sự.

Theo quy định tại điều 1 Công ước viên 1963 định nghĩa Cơ quan lãnh sự như sau:

1. Vì mục đích của Công ước này, những thuật ngữ dưới đây có nghĩa như sau:

a) "Cơ quan lãnh sự" có nghĩa là Tổng lãnh sự quán, Lãnh sự quán, Phó lãnh sự quán hoặc Đại lý lãnh sự quán;

b) "Khu vực lãnh sự" có nghĩa là khu vực dành cho một cơ quan lãnh sự để thực hiện chức năng lãnh sự;

c) "Người đứng đầu cơ quan lãnh sự" có nghĩa là người được bổ nhiệm hoạt động trên cương vị đó;

d) "Viên chức lãnh sự" có nghĩa là bất cứ người nào, kể cả người đứng đầu cơ quan lãnh sự, được uỷ nhiệm thực hiện các chức năng lãnh sự trên cương vị đó;

e) "Nhân viên lãnh sự" có nghĩa là bất cứ người nào được tuyển dụng làm công việc hành chính hoặc kỹ thuật trong cơ quan lãnh sự;
...

2. Thiết lập các cơ quan lãnh sự

Cơ quan lãnh sự chỉ có thể được đặt ở nước sở tại sau khi được sự đồng ý của nước này. (Tức là có sự mong muốn thiết lập quan hệ lãnh sự của nước cử lãnh sự). Cơ quan lãnh sự có thể được đặt ở những nước đã có quan hệ ngoại giao ở cấp đại sứ hoặc chưa có quan hệ ngoại giao ở cấp đại sứ.

Khoản 2 điều 2 của Công ước Viên năm 1963 về quan hệ lãnh sự ghi nhận rằng: Nếu giữa hai nước đã có quan hệ ngoại giao thì có nghĩa là có đủ cơ sở để thiết lập quan hệ lãnh sự. Đây là quy định mới so với các quy định trong các công ước về quan hệ lãnh sự trước đây. Theo tinh thần của Công ước Viên, ta thấy:

- Những cơ sở để thiết lập quan hệ ngoại giao giữa các nước cũng là những cơ sở để thiết lập quan hệ lãnh sự giữa những nước hữu quan;

- Việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước hữu quan đông thời được coi là những điều kiện cần và đủ để hai nước thiết lập quan hệ lãnh sự;

- Quan hệ lãnh sự có thể được thiết lập giữa những nước đã có quan hệ ngoại giao với nhau.

Song nhận định như vậy hoàn toàn không có nghĩa là các nước chỉ có thể thiết lập quan hệ lãnh sự và trao đổi cơ quan lãnh sự trên cơ sở đã có quan hệ ngoại giao. Việc thiết lập cơ quan lãnh sự và quan hệ lãnh sự là do các nước hữu quan thoả thuận quyết định, kể cả khi giữa các nước hữu quan chưa công nhận nhau DeJure và chưa thiết lập quan hệ ngoại giao. Cơ quan lãnh sự là cơ quan đại diện được cử đến một khu vực hành chính nhất định (thành phố, tỉnh, hải cảng...) của một nước khác để bảo vệ quyền lợi kinh tế, văn hoá và quyền lợi của kiểu dân nước mình tại nước nhận lãnh sự.

Trên cơ sở thoả thuận giữa các nước hữu quan, nước sở tại có thể cho phép nước cử đại diện đặt nhiều cơ quan lãnh sự tại nhiều nơi trên lãnh thổ của mình. Ngoài tổng lãnh sự quán ở thủ đô, các nước có thể đặt lãnh sự quán của mình ở các thành phố lớn, ở các địa phương, các hải cảng... Các lãnh sự quán ở địa phương có ngang quyền với các cơ quan lãnh sự ở thủ đô. Điều 2 khoản 2 Hiệp định lãnh sự giữa Việt Nam và Liên Xô năm 1978 quy định: “nơi đặt cơ quan lãnh sự, việc xếp hạng và phạm vi khu vực lãnh sự được quy định theo sự thỏa thuận giữa nước cử đại diện và nước sở tại”.

2. Các nhân viên ngoại giao hay đại diện ngoại giao thực hiện chức năng lãnh sự và ngược lại

Chính phủ của nước cử lãnh sự giao cho nhưng về hình thức không. Cơ quan lãnh sự, tuy đảm nhiệm những công việc quan trọng do được coi là cơ quan đại diện ngoại giao. Dù vậy, các nhân viên ngoại giao hay cơ quan đại diện ngoại giao có thể thực hiện những chức năng lãnh sự và ngược lại, nếu như:

- Hai nước hữu quan thoả thuận coi cơ quan lãnh sự như cơ quan đại diện ngoại giao và nhân viên lãnh sự quán thực hiện những chức năng của đại diện ngoại giao, được hưởng quyền ưu đãi và miễn trừ như nhân viên của cơ quan đại diện ngoại giao;

- Hai nước chưa muốn đặt quan hệ ngoại giao chính thức và thực tế không có cơ quan đại diện ngoại giao thì cơ quan lãnh sự vừa hoạt động về ngoại giao vừa hoạt động về lãnh sự. Công ước Ha-va-na năm 1928 quuy định tại Điều 12 và điều 13, Công ước Viên năm 1963 quy định tại Điều 3 cho phép nhân viên ngoại giao làm công tác lãnh sự và ngược lại. Điều đó phản ánh xu hướng về sự thống nhất giữa hoạt động ngoại giao và hoạt động lãnh sự.

Tuy nhiên, Công ước Ha-va-na năm 1928 về viên chức ngoại giao đã hạn chế khả năng này bằng quy định việc kiêm nhiệm chức năng ấy chỉ có thể thực hiện được khi nước sở tại chấp nhận trong trường hợp không có cơ quan đại diện ngoại giao ở nước sở tại. Trong khi đó, Công ước Viên năm 1963 đã mở rộng hơn khả năng cho phép nhân viên ngoại giao làm công tác lãnh sự và ngược lại. Theo Công ước Viên năm 1963, nếu giữa hai nước đã có quan hệ ngoại giao thì có nghĩa là có đủ cơ sở để thiết lập quan hệ về mặt lãnh sự.

Trên thực tế, việc kiêm nhiệm chức năng đại diện ngoại giao và chức năng lãnh sự đã xuất hiện từ thập niên 20 của thế kỷ XX. Việc cơ quan đại diện ngoại giao làm chức năng lãnh sự được dựa trên cơ sở của các nguyên tắc thông thường điều chỉnh chế độ và địa vị pháp lý của cơ quan đại diện ngoại giao. Trước khi Tổng Lãnh sự quán của Việt Nam tại Ấn Độ hay Tổng Lãnh sự quán của Pháp tại Việt Nam cải tổ thành cơ quan đại diện ngoại giao (đại sứ quán) thì các tổng lãnh sự quán đó vừa loạt động về ngoại giao vừa hoạt động về lãnh sự. Việc nhân viên lãnh tự làm chức năng ngoại giao được quy định tại Điều 17 của Công ước viên năm 1963. Quy định này có ý nghĩa quan trọng đối với những nước vì một lý do nào đó mà mạng lưới lãnh sự quán nhiều hơn cơ quan đại điện ngoại giao. Chẳng hạn như trường hợp Cộng hoà Dân chủ Đức trước đây, vì các nước tư bản chủ nghĩa thực hiện chính sách không công nhận, nền Cộng hòa Dân chủ Đức phải thiết lập hệ thống cơ quan lãnh sự nhiều hơn cơ quan đại diện ngoại giao.

3. Chức năng của cơ quan lãnh sự

Chức năng của cơ quan lãnh sự gần giống như chức năng của cơ quan đại diện ngoại giao, nhưng hạn chế bởi phạm vi hoạt động lãnh sự (trừ những cơ quan lãnh sự kiêm nhiệm). Các cơ quan lãnh sự có chức năng bảo vệ quyền lợi của nước mình cũng như quyền lợi của những tổ chức và công dân nước mình ở nước sở tại. Ngoài ra, các đại diện lãnh sự còn thực hiện một số chức năng khác, cụ thể như:

(1) Có quyền chứng nhận đăng ký hộ tịch (sinh, tử, kết hôn, ly hôn), xử lý tài sản của công dân nước mình ở khu vực lãnh sự khi không có người thừa kế.

(2). Có quyền thống kê và đăng ký công dân nước mình, cấp hộ chiếu, giấy thông hành cho công dân nước mình, thị thực nhập cảnh cho người nước ngoài vào nước mình;

(3) Có quyền yêu cầu nước sở tại ở khu vực lãnh sự và có những kiến nghị về những trường hợp khi quyền lợi của Nhà nước, của các tổ chức và của công dân nước mình tại nước sở tại bị xâm phạm.

4. Cán bộ và nhân viên lãnh sự quán

Theo Điều 4 của Pháp lệnh về quyền ưu đãi, miễn trừ dành cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam năm 1993 thì thành viên của cơ quan lãnh sự bao gồm viên chức lãnh sự, nhân viên lãnh sự và nhân viên phục vụ của cơ quan đó.

Viên chức lãnh sự là những thành viên của cơ quan lãnh sự được uỷ nhiệm thực hiện chức năng lãnh sự với cương vị đó, kể cả người đứng đầu cơ quan lãnh sự.  Nhân viên lãnh sự là những thành viên của cơ quan lãnh sự làm công việc hành chính hoặc kỹ thuật trong cơ quan lãnh sự. Dựa vào địa vị pháp lý và chức năng công tác, có thể chia cán bộ và nhân viên lãnh sự quán ra thành hai nhóm cơ bản sau:

- Cán bộ lãnh sự gồm có Tổng Lãnh sự quán, Lãnh sự, Phó Lãnh sự, bí thư, Tuy viên. Những cán bộ này được hưởng quyền ưu đãi và miễn trở lãnh sự,

- Nhân viên lãnh sự gồm có những nhân viên hành chính kỹ thuật và những nhân viên phục vụ cho hoạt động của lãnh sự quán.

Điều 20 Công ước Viên năm 1963 quy định: Trong trường hợp các nước không thỏa thuận rõ ràng về biến chế lãnh sự, nước tiếp nhận có thể yêu cầu biên chế đó không vượt quá giới hạn mà mình coi là hợp lý và bình thường căn cứ vào hoàn cảnh, điều kiện trong khu vực lãnh sự và các nhu cầu của cơ quan lãnh sự. Quy định này trong một chừng mực nhất định đã loại trừ quyền quy định số lượng nhân viên của cơ quan lãnh sự của nước cử đại diện. Vì vậy, khi thiết lập quan hệ lãnh sự, các nước nên có thỏa thuận rõ ràng về biên chế lãnh sự.

5. Quyền ưu đãi và miễn trừ lãnh sự

Về cơ bản, quyền ưu đãi và miễn trừ lãnh sự cũng giống như quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao nhưng có phạm vi hẹp hơn. Khuynh hướng của các nước xã hội chủ nghĩa là mở rộng phạm vi quyền ưu đãi và miễn trừ lãnh sự, trong khi đó, các nước tư bản chủ nghĩa lại tìm mọi cách để thu hẹp quyền ưu đãi và miễn trừ lãnh sự nhằm can thiệp vào công việc của cơ quan lãnh sự của các nước. 

- Các quyền ưu đãi và miễn trừ đối với cơ quan lãnh sự: Theo Công ước Viên năm 1963, cơ quan lãnh sự có các quyền ưu đãi và miễn trừ sau đây:

+  Quyền bất khả xâm phạm về trụ sở

  • Quyền bất khả xâm phạm về trụ sở
  • Quyền miễn thuế đối với trụ sở của cơ quan lãnh sự
  • Quyền tự do đi lại
  • Quyền tự do liên lạc 

+ Quyền ưu đãi và miễn trừ đối với cán bộ lãnh sự

  • Quyền bất khả xâm phạm về thân thể
  • Quyền miễn trừ xét xử
  • Quyền miễn thuế
Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập).