1. Đã ra quyết định khởi tố nhưng người đó không có tội thì cơ quan nào có trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại?

Theo Điều 35 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, khi quyết định khởi tố bị can đã được Viện kiểm sát phê duyệt, Viện kiểm sát sẽ là cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường cho người bị thiệt hại. Quy trình giải quyết bồi thường được xác định như sau:
Viện kiểm sát giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự:
   - Viện kiểm sát đảm nhiệm vai trò quan trọng trong quá trình giải quyết bồi thường và hỗ trợ tình hình tố tụng hình sự.
Trường hợp Viện kiểm sát giải quyết bồi thường:
   - Đã có phê chuẩn lệnh bắt, quyết định gia hạn tạm giữ của Cơ quan điều tra hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, nhưng người bị bắt, bị tạm giữ không có hành vi vi phạm pháp luật.
   - Đã có phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, lệnh tạm giam của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc đã ra quyết định khởi tố bị can, lệnh tạm giam, quyết định gia hạn tạm giam mà sau đó có quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm.
   - Đã có quyết định truy tố bị can, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo không có tội vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm và bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật.
   - Tòa án cấp sơ thẩm quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung nhưng sau đó có quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm.
   - Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo không có tội vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm.
   - Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo không có tội vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm và sau đó Tòa án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm vẫn giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm xác định bị cáo không có tội vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm.
Do đó, trong trường hợp Viện kiểm sát đã phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc đã ra quyết định khởi tố bị can, mà sau đó có quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm (trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 34 của Luật này), Viện kiểm sát sẽ chịu trách nhiệm bồi thường.
Ngược lại, nếu Viện kiểm sát đã quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung và căn cứ vào kết quả điều tra bổ sung, Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra đối với bị can vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm, thì Viện kiểm sát cũng phải chịu trách nhiệm bồi thường.
Như vậy, việc bồi thường từ Viện kiểm sát không chỉ giới hạn trong trường hợp phê chuẩn khởi tố bị can mà không có cơ sở pháp luật, mà còn mở rộng đến trường hợp đình chỉ điều tra khi không có đủ chứng cứ chứng minh tội phạm của bị can. Điều này nhấn mạnh sự chặt chẽ và minh bạch trong quy trình xử lý vụ án, đồng thời bảo vệ quyền lợi của người bị can trong quá trình hình sự.

2. Trường hợp nào cơ quan điều tra phải giải quyết bồi thường?

Dựa trên quy định tại Điều 34 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, Cơ quan điều tra và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra đóng vai trò quan trọng trong quá trình giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự. Cụ thể, các trường hợp dưới đây sẽ được xem xét để xác định trách nhiệm bồi thường:
Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp:
   - Nếu đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp mà không có căn cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, hoặc nếu đã ra lệnh bắt, quyết định tạm giữ nhưng sau đó cơ quan, người có thẩm quyền quyết định trả tự do, hủy bỏ quyết định tạm giữ, không phê chuẩn lệnh bắt, không phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ vì người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, thì Cơ quan điều tra có trách nhiệm giải quyết bồi thường.
Quyết định khởi tố bị can không được phê chuẩn:
   - Trong trường hợp đã ra quyết định khởi tố bị can nhưng Viện kiểm sát không phê chuẩn vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm, thì Cơ quan điều tra cũng phải chịu trách nhiệm giải quyết bồi thường.
Viện kiểm sát quyết định trả hồ sơ vụ án và đình chỉ vụ án:
   - Nếu Viện kiểm sát quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung và Cơ quan điều tra ra kết luận điều tra bổ sung hoặc kết luận điều tra mới đề nghị truy tố nhưng Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm, thì cả hai đơn vị đều phải chịu trách nhiệm bồi thường.
Như vậy, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước rõ ràng xác định trách nhiệm của Cơ quan điều tra và Cơ quan kiểm sát trong việc bồi thường khi có sai sót trong quá trình xử lý hình sự, đồng thời giúp bảo vệ quyền lợi của người bị can và đảm bảo tính công bằng trong quá trình tố tụng. Nếu như cơ quan điều ra quyết định khởi tố bị can nhưng không được Viện kiểm sát không phê chuẩn quyết định khởi tố vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm thì cơ quan điều tra đã ra quyết định khởi tố bị can đó có trách nhiệm phải bồi thường cho người bị thiệt hại
 

3. Khi cơ quan giải quyết bồi thường bị giải thể thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về ai?

Dựa vào Điều 40 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, quy định chi tiết về việc xác định cơ quan giải quyết bồi thường trong một số trường hợp cụ thể như sau:
Trường hợp cơ quan giải quyết bồi thường là cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại:
+ Nếu cơ quan giải quyết bồi thường đã được chia, tách, sáp nhập, hợp nhất hoặc bị giải thể, cơ quan kế thừa chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đó sẽ là cơ quan giải quyết bồi thường.
+ Trong trường hợp không có cơ quan nào kế thừa chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đã bị giải thể, cơ quan đã ra quyết định giải thể trở thành cơ quan giải quyết bồi thường.
+ Nếu cơ quan đã ra quyết định giải thể là Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, thì cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước sẽ có thẩm quyền xác định cơ quan giải quyết bồi thường.
Những quy định này đều giúp đảm bảo tính liên quan và thống nhất trong quá trình xác định cơ quan giải quyết bồi thường, đặt ra quy tắc rõ ràng để giải quyết tranh chấp và bồi thường một cách minh bạch và công bằng.
Trường hợp giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính tại Tòa án:
+ Tòa án đang thụ lý giải quyết vụ án là cơ quan giải quyết bồi thường trong trường hợp này, đặc biệt là khi có quyết định từ Tòa án liên quan đến bồi thường.
Trường hợp người yêu cầu bồi thường đồng thời yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại và Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu bồi thường:
+ Trong trường hợp này, cơ quan đã thụ lý yêu cầu bồi thường trước đó sẽ là cơ quan giải quyết bồi thường.
Tổng cộng, Điều 40 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước tạo ra một hệ thống xác định cơ quan giải quyết bồi thường trong các tình huống cụ thể, giúp tăng cường tính chính xác và minh bạch trong quá trình xử lý và bồi thường.
 

Xem thêm bài viết: Giao nhận, xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can

Liên hệ đến hotline 19006162 hoặc gửi thư tư vấn đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn pháp luật