1. Giai đoạn điều tra được triển khai khi nào?
Điều tra vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự thứ hai mà trong đó cơ quan Điều tra căn cứ vào các quy định của pháp luật Tố tụng hình sự và dưới sự kiểm sát của Viện kiểm sát tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm thu thập và củng cố các chứng cứ, nghiên cứu các tình tiết của vụ án hình sự, phát hiện nhanh chóng và đầy đủ tội phạm, cũng như người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm tội để truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời bảo đảm cho việc bồi thường thiệt hại về vật chất do tội phạm gây nên và trên cơ sở đó quyết định: Đình chỉ điều tra vụ án hình sự hoặc là; Chuyển toàn bộ các tài liệu của vụ án đó cho Viện kiểm sát kèm theo kết luận điều tra và đề nghị truy tố bị can.
Giai đoạn điều tra được triển khai và bắt đầu từ khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành công việc tố tụng hình sự và đưa ra những quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc bằng bản kết luận điều tra, thực hiện trách nhiệm truy tố đối với bị can. Đồng thời đây cũng là lúc áp dụng các biện pháp xác lập tội đối với phạm nhân xem họ bị mức án như thế nào và hình thức xử phạt ra sao.
2. Bị can bỏ trốn trong giai đoạn điều tra xử lý thế nào?
Theo Điều 60 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021 thì bị can là người hoặc pháp nhân đã bị khởi tố về hình sự. Quyền và nghĩa vụ của bị can là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật này. Bị can có nghĩa vụ phải có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát. Khi có đủ căn cứ xác định một người hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự hiện hành quy định là tội phạm thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can.
Căn cứ vào Điều 7 Thông tư liên tịch 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 09 tháng 10 năm 2012 do Bộ Công an - Bộ Tư pháp - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao ban hành quy định như sau:
- Trong giai đoạn điều tra nếu xác định có bị can bỏ trốn hoặc không biết bị can đang ở đâu thì Cơ quan điều tra đang thụ lý vụ án phải ra quyết định truy nã và phối hợp với lực lượng Cảnh sát truy nã tội phạm để tổ chức truy bắt.
- Trường hợp người đang bị tạm giữ hoặc đang bị tạm giam trốn nhà tạm giữ thì Trưởng nhà tạm giữ báo cáo ngay với Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện nơi đối tượng bỏ trốn để Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra chỉ đạo, tổ chức lực lượng truy bắt đồng thời ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can về “Tội trốn khỏi nơi giam, giữ” theo quy định tại Điều 311 Bộ luật Hình sự năm 1999 (Hiện nay là Điều 386 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017) và ra quyết định truy nã bị can (trong quyết định truy nã ghi rõ các tội danh khác mà người đó đã bị khởi tố).
- Trường hợp người đang bị tạm giữ, tạm giam trốn trại tạm giam thì Giám thị trại tạm giam phải tổ chức ngay lực lượng truy bắt đồng thời thông báo ngay cho Cơ quan điều tra đang thụ lý vụ án đó để ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can về “Tội trốn khỏi nơi giam, giữ” theo quy định tại Điều 311 Bộ luật Hình sự năm 1999 (Hiện nay là Điều 386 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017) và ra quyết định truy nã bị can (trong quyết định truy nã ghi rõ các tội danh khác mà người đó đã bị khởi tố).
Bên cạnh đó, khi bị can bỏ trốn trong giai đoạn điều tra thì cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra. Bởi căn cứ vào khoản 1 Điều 299 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021 thì trong trường hợp chưa xác định được bị can hoặc không biết rõ bị can đang ở đâu nhưng đã hết thời hạn điều tra vụ án thì Cơ quan điều tra phải ra quyết định truy nã trước khi tạm đình chỉ điều tra.
Như vậy, trong giai đoạn điều tra mà bị can bỏ trốn và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền không biết rõ bị can đang ở đâu mà hết thời hạn điều tra vụ án thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải ra quyết định truy nã, sau đó cơ quan ra quyết định tạm đình chỉ điều tra.
3. Cơ quan nào có thẩm quyền ra quyết định truy nã bị can trong giai đoạn điều tra?
Theo Điều 4 Thông tư liên tịch 13/2022/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chỉ được ra quyết định truy nã khi có đủ các điều kiện sau:
- Có đủ căn cứ xác định bị can bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu và đã tiền hành các biện pháp xác minh, truy bắt nhưng không có kết quả;
- Đồng thời đã tiến hành xác định chính xác lý lịch, các đặc điểm để nhận dạng đối tượng bỏ trốn.
Khi có đủ căn cứ xác định nêu trên về việc bị can bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu mà trước đó Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án đã ra lệnh bắt bị can để tạm giam mà không bắt được thì Cơ quan điều tra có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định truy nã.
Trong trường hợp chưa có lệnh bắt bị can để tạm giam thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án không ra lệnh bắt bị can để tạm giam mà Cơ quan điều tra tự mình hoặc theo yêu cầu của Viện kiểm sát, Tòa án ra ngay quyết định truy nã.
Quyết định truy nã bị can bỏ trốn cần phải đảm bảo một số nội dung chính sau đây:
- Ngày, tháng, năm, địa điểm ra quyết định truy nã;
- Tên cơ quan; họ tên, chức vụ người ra quyết định truy nã;
- Họ và tên khai sinh, tên gọi khác (nếu có), ngày, tháng, năm sinh, nơi đăng ký thường trú, nơi tạm trú hoặc nơi ở khác (nếu có) của đối tượng bị truy nã;
- Đặc điểm nhận dạng và ảnh kèm theo (nếu có);
- Tội danh bị khởi tố, truy tố hoặc bị kết án, mức hình phạt mà Tòa án đã tuyên đối với người bị truy nã (nếu có);
- Địa chỉ, số điện thoại liên hệ của cơ quan đã ra quyết định truy nã.
- Trong trường hợp bị can, bị cáo phạm nhiều tội thì quyết định truy nã phải ghi đầy đủ các tội danh của bị can, bị cáo.
Như vậy, quyết định truy nã bị can bỏ trốn trong giai đoạn điều tra sẽ do Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát hoặc Tòa án ra quyết định tùy từng trường hợp. Và để đưa ra được quyết định truy nã bị can bỏ trốn thì cơ quan có thẩm quyền phải có đủ các căn cứ đối tượng bị truy nã như xã định được bị can đã bỏ trốn, lý lịch và đặc điểm nhận dạng bị can. Quyết định truy nã bị can cần đảm bảo nội dung quyết định truy nã phải thể hiện những thông tin cần thiết cho việc phát hiện, bắt người bị truy nã, gồm: họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của bị can, đặc điểm để nhận dạng bị can, tội phạm mà bị can đã bị khởi tố và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật Tố tụng hình sự, kèm theo ảnh bị can.
Quyết định truy nã bị can bỏ trốn trong giai đoạn điều tra phải được gửi đến một số cơ quan Nhà nước sau:
- Công an xã, phường, thị trấn, Công an cấp huyện nơi đăng ký thường trú, tạm trú, nơi ở và quê quán của người bị truy nã;
- Công an cấp tỉnh nơi người bị truy nã có khả năng lẩn trốn hoặc gửi đến tất cả Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Cục Cảnh sát truy nã tội phạm Bộ Công an; Phòng Cảnh sát truy nã tội phạm Công an cấp tỉnh (nơi ra quyết định truy nã);
- Cơ quan hồ sơ nghiệp vụ (nơi đăng ký hồ sơ nghiệp vụ);
- Viện kiểm sát nhân dân có yêu cầu ra quyết định truy nã; Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp với Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã; Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh nơi có trại giam, trại tạm giam, Cơ quan thi hành án hình sự ra quyết định truy nã;
- Tòa án nhân dân có yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã.
Ngoài ra, quyết định truy nã cũng phải được thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng để mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân biết, phát hiện, bắt giữ đối tượng bị truy nã.Quý khách hàng có thể tham khảo thêm bài viết về Truy nã tội phạm là gì ? Quy định về truy nã tội phạm của Luật Minh Khuê.
Mọi vướng mắc chưa rõ hoặc có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách vui lòng liên hệ với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại 24/7, gọi ngay tới số: 1900.6162 hoặc gửi email trực tiếp tại: Tư vấn pháp luật qua email để được giải đáp. Cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.