1. Có được tiếp nhận, sử dụng nguồn kinh phí và hiện vật do cá nhân đóng góp và giúp đỡ từ thiện đối với cơ sở trợ giúp xã hội  hay không?

Theo Nghị định 20/2021/NĐ-CP về Kinh phí thực hiện chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên, cơ sở trợ giúp xã hội có thể tiếp nhận, sử dụng và quản lý nguồn kinh phí và hiện vật được đóng góp bởi tổ chức và cá nhân từ thiện.

- Kinh phí thực hiện chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên bao gồm các khoản chi cho việc hỗ trợ nhận chăm sóc tại cộng đồng, chi trả các chính sách, tuyên truyền, xét duyệt đối tượng, ứng dụng công nghệ thông tin, đào tạo và bồi dưỡng nâng cao năng lực cán bộ, và kiểm tra giám sát. Các hoạt động này được thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

- Kinh phí để chăm sóc và nuôi dưỡng các đối tượng trợ giúp xã hội được đảm bảo theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 của Điều 24 Nghị định này. Các cơ sở trợ giúp xã hội thuộc cấp nào sẽ được bảo đảm nguồn kinh phí từ ngân sách cấp đó thông qua dự toán chi bảo đảm xã hội.

- Các khoản chi cho hoạt động thường xuyên, đầu tư xây dựng cơ bản và các chi phí khác của cơ sở trợ giúp xã hội cũng được thực hiện theo quy định của pháp luật. Cơ sở trợ giúp xã hội có thể tiếp nhận, sử dụng và quản lý nguồn kinh phí và hiện vật do các tổ chức và cá nhân đóng góp và giúp đỡ từ thiện. Tuyệt đối đảm bảo việc sử dụng đúng mục đích, đúng đối tượng và thực hiện thanh quyết toán theo quy định của pháp luật.

- Bộ Tài chính sẽ có trách nhiệm hướng dẫn cụ thể về thực hiện các khoản 1 và 2 của Nghị định này.

Tóm lại, theo quy định của Nghị định 20/2021/NĐ-CP, cơ sở trợ giúp xã hội có thể tiếp nhận, sử dụng và quản lý nguồn kinh phí và hiện vật do các tổ chức và cá nhân đóng góp và giúp đỡ từ thiện. Việc sử dụng nguồn kinh phí và hiện vật này phải tuân thủ đúng mục đích, đúng đối tượng và thực hiện thanh quyết toán theo quy định của pháp luật.

 

2. Điều kiện để dừng trợ giúp xã hội là khi Cơ sở trợ giúp xã hội không có khả năng cung cấp dịch vụ trợ giúp xã hội phù hợp cho đối tượng đúng không?

Theo quy định tại Điều 30 Nghị định 20/2021/NĐ-CP về thẩm quyền, điều kiện, thủ tục dừng trợ giúp xã hội tại cơ sở trợ giúp xã hội, ta thấy rõ ràng rằng cơ sở trợ giúp xã hội không có khả năng cung cấp dịch vụ trợ giúp xã hội phù hợp cho đối tượng là một trong các điều kiện để dừng trợ giúp xã hội.

- Theo quy định, thẩm quyền dừng trợ giúp xã hội thuộc về người đứng đầu cơ sở trợ giúp xã hội hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện nếu cơ sở đó do cấp huyện quản lý. Điều này đảm bảo quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan quản lý trong việc quyết định dừng trợ giúp xã hội đối với đối tượng.

- Để dừng trợ giúp xã hội, cần đáp ứng các điều kiện sau đây: kết thúc quản lý trường hợp theo quyết định của người đứng đầu cơ sở; người giám hộ, gia đình hoặc cá nhân nhận chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng phải có đơn đề nghị theo Mẫu số 09 được ban hành kèm theo Nghị định này; đối tượng được nhận làm con nuôi theo quy định của pháp luật con nuôi; đối tượng đủ 16 tuổi, và nếu đối tượng từ 16 tuổi trở lên đang học các cấp học phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, thì sẽ tiếp tục được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở cho đến khi tốt nghiệp văn bằng thứ nhất, nhưng không quá 22 tuổi.

- Một trong những điều kiện quan trọng để dừng trợ giúp xã hội là khi cơ sở trợ giúp xã hội không có khả năng cung cấp dịch vụ trợ giúp xã hội phù hợp cho đối tượng. Điều này đảm bảo rằng đối tượng nhận được sự quan tâm và hỗ trợ phù hợp từ cơ sở trợ giúp xã hội. Nếu cơ sở không đủ khả năng cung cấp dịch vụ phù hợp, thì việc dừng trợ giúp xã hội là cần thiết để đảm bảo quyền lợi và phát triển của đối tượng.

- Ngoài ra, còn có một số điều kiện khác để dừng trợ giúp xã hội như đối tượng không liên hệ trong vòng 1 tháng, đối tượng đề nghị dừng hoạt động trợ giúp xã hội, đối tượng chết hoặc mất tích theo quy định của pháp luật, kết thúc hợp đồng cung cấp dịch vụ trợ giúp xã hội, và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Tổng hợp lại, việc dừng trợ giúp xã hội đối với một đối tượng cần đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 30 Nghị định 20/2021/NĐ-CP. Trong số các điều kiện đó, việc cơ sở trợ giúp xã hội không có khả năng cung cấp dịch vụ trợ giúp xã hội phù hợp cho đối tượng được xem là một trong những lý do chính để dừng trợ giúp xã hội.

 

3. Có phải có quyết định dừng trợ giúp xã hội trong hồ sơ cá nhân của từng đối tượng do cơ sở trợ giúp xã hội lập không?

Theo quy định tại Điều 29 của Nghị định 20/2021/NĐ-CP về lập hồ sơ quản lý đối tượng tại cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở trợ giúp xã hội có trách nhiệm lập và quản lý hồ sơ cá nhân của từng đối tượng mà họ đang hỗ trợ. Hồ sơ cá nhân của đối tượng này bao gồm các thông tin sau:

- Hồ sơ tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội: Hồ sơ này chứa các thông tin về quá trình tiếp nhận và đăng ký của đối tượng tại cơ sở trợ giúp xã hội. Điều này giúp cơ sở trợ giúp xã hội có cái nhìn tổng quan về từng trường hợp và xác định được quyền lợi và nhu cầu của đối tượng.

- Kế hoạch trợ giúp xã hội và các tài liệu liên quan: Đây là tài liệu mô tả chi tiết về kế hoạch trợ giúp xã hội dành cho đối tượng. Nó bao gồm các hoạt động, chương trình và dịch vụ mà đối tượng sẽ được hưởng, cùng với mục tiêu và kế hoạch thực hiện. Các tài liệu liên quan như báo cáo, biểu đồ, và các tài liệu hỗ trợ khác cũng được bao gồm trong hồ sơ này.

- Quyết định dừng trợ giúp xã hội hoặc thanh lý hợp đồng dịch vụ trợ giúp xã hội: Trong hồ sơ cá nhân của đối tượng, cần có quyết định về việc dừng trợ giúp xã hội hoặc thanh lý hợp đồng dịch vụ trợ giúp xã hội. Điều này xảy ra khi đối tượng không còn đủ điều kiện hoặc không cần thiết nữa để tiếp tục nhận trợ giúp xã hội từ cơ sở trợ giúp. Quyết định này phải được ghi chép và bảo quản cẩn thận trong hồ sơ cá nhân của đối tượng.

- Các văn bản có liên quan đến đối tượng: Cuối cùng, hồ sơ cá nhân cần chứa các văn bản khác có liên quan đến đối tượng, bao gồm các báo cáo, đơn đăng ký, hợp đồng, và thông tin liên lạc khác. Các văn bản này đóng vai trò quan trọng trong việc theo dõi và đánh giá tình hình và tiến trình của đối tượng trong quá trình nhận trợ giúp xã hội.

Vì vậy, theo quy định của Nghị định trên, trong hồ sơ cá nhân của từng đối tượng do cơ sở trợ giúp xã hội lập phải có quyết định dừng trợ giúp xã hội hoặc thanh lý hợp đồng dịch vụ trợ giúp xã hội theo quy định. Điều này giúp đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong quá trình quản lý và hỗ trợ đối tượng tại cơ sở trợ giúp xã hội.

Xem thêm >>> Đối tượng bảo trợ xã hội được chăm sóc, nuôi dưỡng trong cơ sở trợ giúp xã hội, nhà xã hội

Nếu quý khách hàng có bất kỳ thắc mắc nào liên quan đến bài viết hoặc vấn đề pháp lý, chúng tôi luôn sẵn lòng hỗ trợ và giải đáp. Chúng tôi hiểu rằng có thể có những điều mà quý khách muốn hiểu rõ hơn, hoặc có những khía cạnh pháp lý mà quý khách cần được tư vấn. Để đảm bảo quý khách nhận được thông tin chính xác và đầy đủ, chúng tôi khuyến khích quý khách liên hệ với tổng đài tư vấn pháp luật của chúng tôi qua số điện thoại 1900.6162 hoặc gửi email đến địa chỉ lienhe@luatminhkhue.vn.

Tổng đài tư vấn pháp luật của chúng tôi được thành lập với mục đích cung cấp sự hỗ trợ chuyên nghiệp và tư vấn đúng pháp luật cho khách hàng. Đội ngũ chuyên gia pháp lý của chúng tôi sẽ lắng nghe tận tâm các câu hỏi và thắc mắc của quý khách, và cung cấp những giải pháp phù hợp nhất.

Chúng tôi luôn coi trọng sự quan tâm và phản hồi từ phía khách hàng. Vì vậy, nếu quý khách có bất kỳ câu hỏi, ý kiến hoặc góp ý nào, xin hãy liên hệ với chúng tôi. Chúng tôi sẽ làm hết sức để đáp ứng và giúp đỡ quý khách hàng một cách tốt nhất.