1. Phân tích khả năng bị xử lý hình sự của hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Theo quy định cụ thể tại Điều 217 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung bởi điểm a khoản 50 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017), hành vi nói xấu đối thủ cạnh tranh mà làm sai lệch suy nghĩ của khách hàng về họ có thể cấu thành tội Vi phạm quy định về cạnh tranh nếu thỏa mãn các yếu tố sau:

- Gây ra thiệt hại hoặc thu lợi bất chính:

+ Gây thiệt hại cho người khác mà giá trị thiệt hại từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng: Cần phải có căn cứ để chứng minh thiệt hại cụ thể chẳng hạn như doanh thu bị sụt giảm, thị phần bị giảm sút, v.v.

+ Thu lợi bất chính khoản tiền từ 500.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng: Cần phải xác định được cụ thể số tiền lợi bất chính thu được do hành vi nói xấu đối thủ cạnh tranh mà có.

- Hành vi nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh:

+ Nói xấu, lan truyền những thông tin sai lệch: Thông tin bịa đặt, không đúng sự thật về sản phẩm, dịch vụ, uy tín của đối thủ cạnh tranh.

+ Gây ảnh hưởng đến quyết định của khách hàng: Khách hàng có thể bị lầm tưởng, hoặc hiểu sai về đối thủ cạnh tranh, từ đó mà đưa ra quyết định mua hàng không đúng đắn.

- Chủ ý khi thực hiện hành vi: Phải có những căn cứ, chứng cứ chứng minh hành vi nói xấu là do cố ý, do cá nhân hoặc tổ chức thực hiện nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh.

Ngoài ra, cần phải lưu ý rằng việc truy cứu trách nhiệm hình sự còn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố khác nhau như tính chất, mức độ vi phạm, hành vi đã được khắc phục hay chưa, v.v.

Hành vi nói xấu đối thủ cạnh tranh mà làm sai lệch suy nghĩ của khách hàng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm quy định về cạnh tranh nếu đáp ứng các điều kiện trên. Do đó, doanh nghiệp cần cẩn trọng trong việc cạnh tranh, tránh sử dụng những thủ đoạn không lành mạnh để gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh.

 

2. Tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Xác định tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả, mục đích, động cơ, nhân thân, hành vi của người thực hiện hành vi vi phạm quy định về cạnh tranh:

* Tính chất và mức độ nguy hiểm:

- Tính chất: Hành vi vi phạm quy định về cạnh tranh thuộc loại hành vi xâm hại trật tự quản lý kinh tế, gây rối loạn hoạt động kinh doanh, ảnh hưởng đến sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường.

- Mức độ nguy hiểm: Mức độ nguy hiểm của hành vi phụ thuộc vào các yếu tố sau:

+ Mức độ thiệt hại hoặc lợi bất chính: Thiệt hại hay lợi bất chính càng lớn thì mức độ nguy hiểm càng cao.

+ Phạm vi ảnh hưởng: Hành vi ảnh hưởng đến nhiều đối tượng, nhiều thị trường thì mức độ nguy hiểm càng cao.

+ Tính chất của hành vi: Hành vi sử dụng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt thì mức độ nguy hiểm càng cao.

+ Tiền sử vi phạm của người thực hiện hành vi: Người đã từng vi phạm hành vi này hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác thì mức độ nguy hiểm càng cao.

* Hậu quả do hành vi gây ra:

- Hậu quả về mặt kinh tế: Gây thiệt hại cho doanh nghiệp bị cạnh tranh, ảnh hưởng đến doanh thu, lợi nhuận, thị phần của họ.

- Hậu quả về mặt xã hội: Gây mất niềm tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm, dịch vụ, gây rối loạn thị trường, ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế.

* Mục đích và động cơ của người thực hiện hành vi:

- Mục đích: Thường nhằm mục đích loại trừ đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường, thu lợi bất chính.

- Động cơ: Có thể xuất phát từ lòng tham, sự đố kỵ, ganh ghét, hoặc do thiếu hiểu biết về pháp luật.

* Ý thức chủ quan của người vi phạm:

- Cố ý: Người thực hiện hành vi biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.

- Vô ý: Người thực hiện hành vi không biết hoặc không lường trước được hậu quả của hành vi mình.

* Nhân thân, hành vi của người thực hiện hành vi:

- Nhân thân: Cần xem xét các yếu tố như tuổi tác, nghề nghiệp, trình độ học vấn, lý lịch bản thân, v.v.

- Hành vi: Cần xem xét các yếu tố như đã từng vi phạm pháp luật hay chưa, mức độ vi phạm, thái độ trong quá trình điều tra, xét xử, v.v.

* Các yếu tố tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Yếu tố tăng nặng:

+ Hành vi được thực hiện nhiều lần, gây hậu quả nghiêm trọng.

+ Sử dụng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt.

+ Có tiền án, tiền sự.

- Yếu tố giảm nhẹ:

+ Lần đầu vi phạm.

+ Tự thú, thành khẩn khai báo, khắc phục hậu quả.

+ Giúp đỡ bắt giữ đồng phạm.

+ Có thành tích trong công tác, học tập.

* Đánh giá khả năng giáo dục, cải tạo của người vi phạm: Căn cứ vào các yếu tố như nhân thân, hành vi, thái độ của người vi phạm để đánh giá khả năng giáo dục, cải tạo.

- Lưu ý:

+ Việc xác định các yếu tố trên cần có căn cứ chứng cứ cụ thể, chính xác.

+ Việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả, mục đích, động cơ, nhân thân, hành vi của người thực hiện hành vi vi phạm quy định về cạnh tranh cần được thực hiện một cách khách quan, công bằng, đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Việc xác định tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả, mục đích, động cơ, nhân thân, hành vi của người thực hiện hành vi vi phạm quy định về cạnh tranh là rất quan trọng để đánh giá mức độ nghiêm trọng của hành vi và áp dụng hình phạt phù hợp.

 

3. Vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ cạnh tranh lành mạnh

Pháp luật cạnh tranh đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ cạnh tranh lành mạnh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Cụ thể, pháp luật cạnh tranh thể hiện vai trò của mình qua các khía cạnh sau:

- Đảm bảo môi trường kinh doanh bình đẳng:

+ Cấm các hành vi độc quyền, lũng đoạn thị trường, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tham gia thị trường một cách bình đẳng, cạnh tranh sòng phẳng.

+ Ngăn chặn các hành vi gian lận thương mại, quảng cáo sai sự thật, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.

- Thúc đẩy đổi mới, sáng tạo:

+ Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh.

+ Tạo điều kiện cho sự ra đời của các sản phẩm, dịch vụ mới, chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của thị trường.

- Bảo vệ người tiêu dùng:

+ Đảm bảo người tiêu dùng có quyền lựa chọn đa dạng sản phẩm, dịch vụ với giá cả hợp lý.

+ Bảo vệ người tiêu dùng khỏi các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh, đảm bảo quyền lợi chính đáng của họ.

- Góp phần phát triển kinh tế:

+ Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sử dụng nguồn lực.

+ Tạo môi trường đầu tư hấp dẫn, thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước.

- Nâng cao vị thế quốc gia trên thị trường quốc tế:

+ Giúp các doanh nghiệp Việt Nam cạnh tranh hiệu quả trên thị trường quốc tế.

+ Góp phần hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế.

- Ngoài ra, pháp luật cạnh tranh còn có vai trò:

+ Nâng cao nhận thức của doanh nghiệp và người tiêu dùng về tầm quan trọng của cạnh tranh lành mạnh.

+ Góp phần xây dựng một nền kinh tế thị trường minh bạch, hiệu quả, bền vững.

Pháp luật cạnh tranh là công cụ quan trọng để bảo vệ cạnh tranh lành mạnh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Do đó, việc thực thi hiệu quả pháp luật cạnh tranh cần được quan tâm và chú trọng nhằm đảm bảo môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh cho tất cả các chủ thể kinh tế.

 

Ngoài ra, có thể tham khảo: Cho ví dụ về hành vi cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng. Còn khúc mắc, liên hệ 1900.6162 hoặc gửi email tới: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ. Xin cảm ơn.