- 1. Người bị tâm thần có phải là người mất năng lực hành vi dân sự không?
- 2. Người mắc bệnh tâm thần giết mẹ đẻ thì truy cứu trách nhiệm hình sự như thế nào?
- 3. Người giám hộ của người bị tâm thần có phải bồi thường nếu người bị tâm thần đó giết người hay không?
- 4. Trường hợp nào người tâm thần phải chịu trách nhiệm hình sự?
1. Người bị tâm thần có phải là người mất năng lực hành vi dân sự không?
Căn cứ tại Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015, theo đó:
Một người bị coi là mất năng lực hành vi dân sự khi họ được kết luận là bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì sẽ được người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần. Sau khi được Toà án ra quyết định tuyên bố người này mất năng lực hành vi dân sự nhưng theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan cho thấy không còn căn cứ thì yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.
Chính vì vậy, trong quá trình giao dịch dân sự đối với người mất năng lực hành vi dân sự thì phải được xác lập và thực hiện bởi người đại diện theo pháp luật.
Như vậy, người bị tâm thần nhưng phải không thể nhận thức và làm chủ hành vi của mình và có kết luật giám định pháp y là mắc bệnh tâm thần nếu có yêu cầu thì sẽ được Toà án tuyên bố là người mất năng lực hành vi dân sự.
2. Người mắc bệnh tâm thần giết mẹ đẻ thì truy cứu trách nhiệm hình sự như thế nào?
Hành vi giết mẹ đẻ được coi là hành vi vi phạm pháp luật và sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 như sau:
Khung thứ nhất: bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình khi thực hiện hành vi giết người như sau: giết một lúc 02 người trở lên; hành vi giết người dưới 16 tuổi; hành vi biết phụ nữ có thai nhưng vẫn giết'; hành vi giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân; hành vi giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình; có hành vi giết người nhưng mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; giết người với mục đích thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác; hành vi giết người với mục đích là lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân; hành vi giết người để thực hiện tội phạm một cách man rợ; lợi dụng nghề nghiệp để giết người; giết người bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người; thuê một người khác để giết người hoặc giết người đã được thuê; thực hiện hành vi giết người có tính chất côn đồ; giết người một cách có tổ chức; tái phạm nguy hiểm; giết vì động cơ đê hèn.
Khung thứ hai: phạt tù từ 7 năm đến 15 năm nếu không thuộc một trong các hành vi tại khung 1
Khung thứ ba: phạt tù từ 01 năm đến 05 năm đối với hành vi đang chuẩn bị giết người
Khung thứ tư: Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.
Như vậy, với hành vi giết mẹ đẻ người phạm tội phải chịu mức hình phạt nêu trên nặng nhất lên đến 20 tù, tù chung thân hoặc tử hình.
Trong trường hợp người phạm tội là con và bị tâm thần thì sẽ được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, cụ thể như sau:
Theo Điều 21 Bộ Luật Hình sự 2015 quy định về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự như sau:
Một người không bị chịu trách nhiệm hình sự nếu như người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. Chỉ khi cơ quan giám định pháp y kết luận và được tòa án tuyên bố người này mất năng lực hành vi dân sự thì người này mới được coi là mất năng lực hành vi
Có thể hiểu, năng lực trách nhiệm hình sự là năng lực nhận thức được ý nghĩa xã hội của hành vi của mình và điều khiển được hành vi theo đòi hỏi của xã hội. Người có năng lực trách nhiệm hình sự là người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và khả năng kìm chế hành vi đó để lựa chọn thực hiện hành vi khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội. Chính vì vậy, một người bị toà tuyên bố là bị tâm thần sẽ k có đầy đủ năng lực để nhận biết được tính nguy hiểm cho xã hội, họ không làm chủ được hành vi của mình cũng như không biết kiềm chế được hành vi đó dẫn đến việc vi phạm pháp luật.
Như vậy, với trường hợp trên người con có thể sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu có kết luận của giám định pháp y và tuyên bố của tòa án đối với tình trạng đó. Nếu không người con phải chịu trách nhiệm hình sự vì tội giết người theo khung định mức trách nhiệm tại các điều khoản trên.
Một trường hợp khác, nếu người con giết mẹ nhưng tại thời điểm gây án người con bị bệnh tâm thần nhưng không mất hẳn khả năng làm chủ hành vi, thì người con vẫn phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình, nhưng có thể sẽ được áp dụng tình tiết giảm nhẹ là phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra theo quy định pháp luật.
3. Người giám hộ của người bị tâm thần có phải bồi thường nếu người bị tâm thần đó giết người hay không?
Theo Điều 57 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định về nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi như sau:
- Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người mất năng lực hành vi dân sự là cần: Chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho người được giám hộ trong quá trình họ bị bệnh; người giám hộ cần đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự; người giám hộ còn thực hiện quản lý tài sản của người được giám hộ; người giám hộ còn bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ. Ngoài ra, người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có nghĩa vụ theo quyết định của Tòa án trong số các nghĩa vụ quy định nêu trên
Tại Khoản 3 Điều 586 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về trường hợp phát sinh trường hợp bồi thường thiệt hại như sau: Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường
Như vậy, người giám hộ là người phải chịu trách nhiệm quản lý, chăm sóc, điều trị cho người được giám hộ (người bị toà án tuyên là mất năng lực hành vi dân sự) thì trong trường hợp tòa án xác định người bị tâm thần phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại, người giám hộ của người bị tâm thần sẽ phải có trách nhiệm thực hiện bồi thường thiệt hại do người mất năng lực hành vi gây ra cho người bị hại.
4. Trường hợp nào người tâm thần phải chịu trách nhiệm hình sự?
Không phải trong mọi trường hợp người bị bệnh tâm thần đều không phải chịu trách nhiệm hình sự. Theo tinh thần của Điều 21 Bộ luật Hình sự 2015, người bị bệnh tâm thần chỉ được miễn trách nhiệm hình sự khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh. Đồng thời, tình trạng bệnh ở mức làm mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi.
Còn nếu người đó thực hiện hành vi phạm tội trong trạng thái hoàn toàn bình thường mà trước khi bị kết án mới lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi thì có thể vẫn sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự căn cứ theo khoản 2 Điều 49 Bộ luật Hình sự 2015: Đối với người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng trước khi bị kết án đã mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, Tòa án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.
Trong trường hợp này, Tòa án sẽ căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần để ra quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi người đó khỏi bệnh thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.
Như vậy, trong một số trường hợp người bị tâm thần vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự chứ không phải được miễn hoàn toàn trách nhiệm.
Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến hotline 1900.6162. Email: lienhe@luatminhkhue.vn . Trân trọng!
Bài viết liên quan: Mẫu đơn yêu cầu giám định tâm thần năm 2023 mới nhất