1. Con riêng của vợ, chồng được hiểu như thế nào?
Con riêng được hiểu là con của một bên vợ hoặc chồng với người khác.
Con riêng có thể là con do người vợ hoặc người chồng có trước khi kết hôn (có trong quan hệ hôn nhân trước hoặc vợ, chồng chưa kết hôn nhưng đã có con ngoài hôn nhân). Cũng có thể là con riêng của vợ nếu do người vợ sinh ra trong thời kì hôn nhân nhưng Tòa án đã xác định người chồng không phải là cha của người con đó (con do người vợ có thai với người khác trong thời kì hôn nhân). Có thể là con riêng của người chồng trong trường hợp Tòa án xác định người chồng là cha của người con do người phụ nữ khác sinh ra. Như vậy, con riêng có thể là con trong hôn nhân, có thể là con ngoài hôn nhân.
2. Điều kiện phát sinh mối quan hệ giữa bố dượng, mẹ kế với con riêng của vợ hoặc chồng
Mối quan hệ này phát sinh trong trường hợp cha hoặc mẹ xây dựng lại gia đình, sống chung với con riêng trong cuộc hôn nhân trước, hoặc con ngoài giá thú. Đây là điều kiện bắt buộc, trong nhiều trường hợp, bố dượng, mẹ kế không sống chung với con riêng thì không phát sinh mối quan hệ này.
Pháp luật hiện nay đã quy định dù là con riêng của vợ hoặc chồng nhưng bố dượng, mẹ kế vẫn có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ như người cha, người mẹ đối với con ruột của mình và ngược lại. Quan hệ giữa người con riêng với bố dượng, mẹ kế cũng là quan hệ cha, mẹ - con.
3. Con riêng có được chia tài sản khi bố mẹ ly hôn không?
Theo quy định tại khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Liên quan đến vấn đề tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng
Tài sản chung của vợ chồng được quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau :
+ Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
+ Tài sản chung của vợ chồng là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất và được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của hai vợ chồng.
+ Trong trường hợp không đưa ra được căn cứ nào để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì quyết định tài sản đó là tài sản chung.
Tài sản riêng của vợ, chồng được quy định tại Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau :
+ Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.
+ Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng được coi là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định đã đề ra.
Liên quan đến giải quyết tài sản khi vợ chồng ly hôn
Căn cứ Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì tài sản của vợ chồng khi ly hôn được giải quyết như sau :
Thứ nhất, trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.
Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.
Thứ hai, trường hợp áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn thì tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi nhưng có tính đến một số yếu tố sau đây :
Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng tức là tình trạng của vợ, chồng cũng như của các thành viên khác trong gia đình mà vợ chồng có quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản theo quy định pháp luật;
Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, tức là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn.
Thứ ba, tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
Thứ tư, tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này. Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
Vậy con riêng có được chia tài sản khi bố mẹ ly hôn không?
Thứ nhất, trong trường hợp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho hộ gia đình thì những thành viên đủ 15 tuổi trở lên có tên trong sổ vào thời điểm cấp Giấy chứng nhận sẽ có quyền đối với tài sản đó. Nếu con đủ điều kiện nêu trên thì khi bố mẹ ly hôn, con mới được xem xét giải quyết để chia tài sản.
Thứ hai, khoản 5 Điều 70 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định về quyền và nghĩa vụ của con như sau "Được hưởng quyền về tài sản tương xứng với công sức đóng góp vào tài sản của gia đình." Theo quy định trên nếu con còn quá nhỏ và chưa có công sức đóng góp vào khối tài sản chung của gia đình thì sẽ không được chia.
Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này.
Như vậy, tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, tức là không bắt buộc phải chia cho các con bao gồm cả con chung và con riêng. Nhưng nếu vợ chồng thỏa thuận sẽ cho toàn bộ hoặc một phần tài sản cho con riêng thì con mới có quyền sở hữu phần tài sản được tặng cho đó. Việc tặng cho tài sản này phải lập thành hợp đồng tặng cho có công chứng chứng thực theo quy định pháp luật. Tức là kể cả con riêng cũng có thể được bố mẹ chia tài sản cho khi ly hôn trong trường hợp bố mẹ có thỏa thuận tặng cho.
Trên đây là nội dung bài viết của Luật Minh Khuê liên quan đến vấn đề Con riêng có được chia tài sản khi bố mẹ ly hôn không ? Ngoài ra quý khách hàng có thể tham khảo bài viết Con trên 18 tuổi có được chia tài sản khi bố mẹ ly hôn không? để biết thêm được nhiều thông tin hữu ích hơn. Mọi thắc mắc liên quan đến vấn đề này hay những vấn đề pháp lý khác, quý khách vui lòng liên hệ hotline: 1900.6162 để được đội ngũ tư vấn viên tư vấn, giải đáp thắc mắc nhanh chóng và kịp thời hoặc gửi yêu cầu về địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Trân trọng !