1. Khái niệm con riêng

Con riêng là con của một bên vợ hoặc chồng với người khác.

Con riêng có thể là con do người vợ hoặc người chồng có trước khi kết hôn (có trong quan hệ hôn nhân trước hoặc vợ, chồng chưa kết hôn nhưng đã có con ngoài hôn nhân). Cũng có thể là con riêng của vợ nếu do người vợ sinh ra trong thời kì hôn nhân nhưng Tòa án đã xác định người chồng không phải là cha của người con đó (con do người vợ c6 thai với người khác trong thời kì hôn nhân). Có thể là con riêng của người chồng trong trường hợp Tòa án xác định người chồng là cha của người con do người phụ nữ khác sinh ra. Như vậy, con riêng có thể là con trong hôn nhân, có thể là con ngoài hôn nhân.

2. Mối quan hệ phát sinh giữa bố dượng, mẹ kế với con riêng của chồng hoặc vợ

Con riêng cùng sống chung với bố dượng, mẹ kế có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo với bố dượng, mẹ kế, chăm sóc, nuôi dưỡng bố dượng, mẹ kế khi ốm đau, già yếu, tàn tật.

Con riêng không được ngược đãi, hành hạ, xúc phạm bố dượng, mẹ kế.

Con riêng nếu đã chăm sóc, nuôi dưỡng bố dượng, mẹ kế như đối với cha, mẹ đẻ thì được thừa kế di sản của bố dượng, mẹ kế khi bố dượng, mẹ kế chết.

3. Quan hệ nhân thân giữa bố dượng, mẹ kế và con riêng

Theo khoản 1 Điều 38 thì bố dượng và mẹ kế có nghĩa vụ và quyền trông nom, giáo dục, chăm sóc con riêng cùng chung sống với mình theo quy định tại Điều 34 và Điều 37 của luật Hôn nhân và gia đình. Tại Điều 34 luật này có quy định như sau:

“1. Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con; tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập và giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.

2. Cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa các con, ngược đãi, hành hạ, xúc phạm con; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên; không được xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.”

Theo đó thì thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc cùng vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của bố dượng, mẹ kế đối với con riêng. Là quyền bởi không ai, trong bất cứ hoàn cảnh nào có thể ngăn cản hoặc tước đi quyền được yêu thương, chăm sóc đói với con cái từ phía người cha, người mẹ, ngoại trừ những trường hợp đặc biệt, vì lợi ích của con mà quyền này bị hạn chế theo một quyết định hoặc một bản án của tòa án.

>> Xem thêm:  Luật hôn nhân và gia đình là gì ? Đối tượng, phương pháp điều chỉnh của luật hôn nhân gia đình

Là nghĩa vụ bởi lẽ không một người cha, người mẹ nào – kể cả cha dượng mà mẹ kế – có quyền ruồng rẫy, ngược đãi hoặc từ chối trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc con cái. Vì lợi ích, vì sự phát triển bền vững của con trẻ, đạo đức xã hội cũng như pháp luật đặt ra những trách nhiệm, nhiệm vụ tối thiểu của người cha, người mẹ (kể cả bố dượng mà mẹ kế) đối với con cái. Cũng theo quy định này, bố dượng, mẹ kế không được có những hành vi đối xử tồi tệ về ăn, mặc, ở và các sinh hoạt hàng ngày khác, không được mắng chửi, nhục mạ con cái, để cho con cái ăn mặc rách rưới, cho ở nơi khổ cực..trong kho có điều kiện tốt hơn.

Bên cạnh đó, bố dượng và mẹ kế có nghĩa vụ giáo dục con. Theo Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định:

“1. Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập.

Cha mẹ tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình đầm ấm, hoà thuận; làm gương tốt cho con về mọi mặt; phối hợp chặt chẽ với nhà trường và các tổ chức xã hội trong việc giáo dục con.

2. Cha mẹ hướng dẫn con chọn nghề; tôn trọng quyền chọn nghề, quyền tham gia hoạt động xã hội của con.

3. Khi gặp khó khăn không thể tự giải quyết được, cha mẹ có thể đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan giúp đỡ để thực hiện việc giáo dục con.”

Theo đó, bố dượng, mẹ kế có nghĩa vụ và quyền giáo dục chăm lo và tạo điều kiện cho con riêng của vợ hoặc chồng vì mục đích để trẻ em phát triển toàn diện, thành một con người có ích cho xã hội. Do mối quan hệ giữa bố dượng, mẹ kế với con riêng rất nhạy cảm nên nhiều khi bố dượng và mẹ kế không quan tâm giáo dục và chăm sóc cho con riêng được phát triển cân đối và lành mạnh, đặc biệt đối khi trong những gia đình ghép thì vấn đề về môi trường gia đình rất phức tạp. Bởi vậy mà bố dượng, mẹ kế cũng có nghĩa vụ và quyền đối với con tiêng như nghĩa vụ và quyền của cha mẹ đói với con cái được quy định tại khoản 2, 3 Điều 37 luật Hôn nhân và Gia đình.

4. Quyền và nghĩa vụ của con riêng đối với bố dượng, mẹ kế

Quyền và nghĩa vụ của con riêng đối với bố dượng, mẹ kế cũng giống như quyền và nghĩa vụ của con đối với cha mẹ đẻ, với điều kiện là con riêng phải sống chung với bố dượng, mẹ kế (Điều 35, khoản 2 Điều 36 luật Hôn nhân và Gia đình)

Quan hệ gia đình với tính chất đặc thù của mình luôn thiết lập một tôn ti, trật tự để giao dục con cái. Ngược lại con cái với tư cách là người được hưởng sự yêu thương, nuôi dưỡng và hi sinh của cha mẹ phải có bổn phận kính trọng, biết ơn, hiếu thảo với cha mẹ. Việc cha mẹ và con cái thực hiện quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định đã trở thành một chuẩn mực đạo đức được cả xã hội thừa nhận. Những hành vi bất kính của con đối với cha mẹ, làm tổn thương đến lòng yêu thương và sự hi sinh của cha mẹ tùy thuộc vào mức độ đều bị lên án hoặc bởi dư luận, đạo đức xã hội hoặc bị xử lý theo quy định của pháp luật nếu mức độ nghiêm trọng.

Ngoài ra, con cái với tư các là thế hệ tiếp nối và kế thừa lịch sử phải có nghĩa vụ tôn trọng, phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình. Quy định này thể hiện tư tưởng của Đảng và nhà nước ta trong việc đề cao những bản sắc quý báu, truyền thống đạo đức tốt đẹp trong gia đình Việt nam, tránh lối sống thực dụng, cá nhân, phủ nhận lịch sử như cách nhìn nhận của một bộ phận thanh niên nam nữ trong cuộc sống hiện đại ngày nay.

Tuy nhiên trên thực tế xã hội, không ít những trường hợp khi cha mẹ cần sống nương tựa vào con cái đã bị con cái hành hạ, ngược đãi.

– Hành hạ cha mẹ là hành vi đối xử tác làm cho cha mẹ đau đớn về thể xác hoặc tinh thần.

– Ngược đãi được hiểu là việc đối xử tồi tệ về ăn, mặc, ở và các mặt sinh hoạt hàng ngày đối với cha mẹ như xỉ vả, mắng chửi, bỏ đói, để mặc rét…

>> Xem thêm:  Điều kiện và thủ tục nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo ? Mang thai hộ có hợp pháp không ?

Sự tha hóa về mặt đạo đức đã khiến một số người không ý thức được đạo lý xã hội và bổn phận của mình, có rất nhiều hành vi cư xử không đúng và không tốt, có thể gây tổn thương về sức khỏe và danh dự của cha mẹ. Vì vậy, để đề cao đạo lý làm con, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của cha mẹ, nhắc nhở và giáo dục những người không làm tròn đạo hiếu, pháp luật quy định “nghiêm cấm con có hành I ngược đãi, hành hạ, xúc phạm cha mẹ.”

Pháp luật đề ta những chế tài nghiêm khắc với những người có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm cha mẹ mình “tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường”, nhằm bảo vệ trật tự và đạo lý xã hội.

5. Quan hệ pháp luật về tài sản giữa cha mẹ và con

Hệ thống pháp luật Hôn nhân và Gia đình phân định quan hệ pháp luật về tài sản giữa cha mẹ hoặc con làm 2 nhóm: Quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng và quan hệ tài sản khác.

Quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng

– Quan hệ nuôi dưỡng

Theo điều 36 luật Hôn nhân và Gia đình quy định:

“1. Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

2. Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ ốm đau, già yếu, tàn tật; trong trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ.

– Thứ nhất, thông thường pháp luật chỉ quy định nghĩa vụ nuôi dưỡng của cha mẹ đối với con cái là từ khi sinh ra cho tới lúc thành niên. Đến tuổi thành niên con người có đủ năng lực để bằng ý chí và hành vi của mình tự tạo dựng cho mình một cuộc sống độc lập. Tuy nhiên nhiều trường hợp con sinh ra bị bệnh tật bẩm sinh hoặc do tai nạn…kho đã thành niên vẫn không có khả năng lao động, không thể tự chăm lo và nuôi sống bản thân mình thì cha mẹ có trách nhiệm tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ cho con mình.

>> Xem thêm:  Thuận tình ly hôn cần những thủ tục gì? Nộp đơn ly hôn ở đâu?

Điều này là phù hợp với thực tế và đạo lý xã hội. Theo quy định tại Điều 22 Bộ luật Dân sự, khi một người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự dựa trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định có thẩm quyền. Khi đó, mặc dù con đã thành niên nhưng do bị tàn tật (bị khiếm khuyết về thể chất), mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì cha mẹ phải là những người chăm sóc, nuôi dưỡng.

– Thứ hai, trong quan hệ gia đình, thông thường nghĩa vụ của chủ thể này đồng thời là quyền của chủ thể kia. Ví dụ, con cái được hưởng quyền chính là kết quả của việc cha mẹ thực hiện nghĩa vụ và ngược lại. Bảo vệ quyền lợi của cha, mẹ, các con trong gia đình được Nhà nước bảo hộ, phải được xác định là một nguyên tắc cơ bản của pháp luật Hôn nhân và gia đình.

– Quan hệ cấp dưỡng

Theo quy định tại khoản 11 Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình thì: “Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, là người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, là người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật này”

Như vậy nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ phát sinh trong trường hợp người được cấp dưỡng và người cấp dưỡng không sống cùng nhau. Mà theo quy định tại điều 38 luật Hôn nhân và Gia đình thì quyền và nghĩa vụ giữa cha dượng, mẹ kế và con riêng của vợ, chồng chỉ phát sinh khi họ sống cùng nhau. Hơn nữa giữa họ không hề có quan hệ hôn nhân, huyết thống hay quan hệ nuôi dưỡng. Vì vậy, không thể phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cha dượng, mẹ kế với con riêng của vợ, chồng.

>> Xem thêm:  Ly hôn đơn phương nhưng vợ hoặc chồng không đồng ý ký đơn xử lý thế nào?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Chia thừa kế theo pháp luật con riêng có được hưởng thừa kế không ?

Trả lời:

trường hợp không có di chúc

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

“Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

...

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.”

Theo đó người con riêng đó vẫn là con đẻ của cha bạn. Cho nên người con riêng này vẫn được hưởng thừa kế của cha bạn và phần thừa kế mà người con riêng này được nhận sẽ bằng phần thừa kế mà bạn được nhận. 

Câu hỏi: Con riêng được từ chối di sản không?

Trả lời:

về việc từ chối nhận di sản

Theo quy định tại Điều 620 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

"Điều 620. Từ chối di sản 

1. Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.

2. Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết.

3. Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản."

Do vậy người con riêng này có quyền từ chối nhận di sản nhưng phải có văn bản xác nhận về vấn đề này và có công chứng tại UBND xã. Khi đã có văn bản xác nhận này rồi thì nghĩa là người con riêng này đã từ chối việc nhận phần di sản thừa kế. Cho dù sau này có thay đổi thì cũng không cs quyền khởi kiện ra Tòa.

Câu hỏi: Người để lại di chúc không cho con riêng hưởng thừa kế?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 644 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

"Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này."

Nếu người con riêng kia không thuộc một trong số những trường hợp nêu trên thì nếu cha bạn để lại di chúc nhưng có chia cho con riêng thì người con riêng này sẽ không được nhận phần di sản thừa kế nào cả.