1. Công an có quyền kiểm tra điện thoại của dân không?

Điện thoại của một cá nhân là nơi lưu trữ những thông tin cá nhân, bí mật riêng tư của người đó. Do đó, căn cứ quy định trên, cá nhân có toàn quyền bảo vệ thông tin trong điện thoại của mình.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp sau đây, cơ quan có thẩm quyền có thể khám xét, tịch thu, kiểm tra điện thoại của một người:

Khi điện thoại chứa tang vật vụ việc vi phạm hành chính:

Căn cứ khoản 5 Điều 119 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, người có thẩm quyền có quyền khám đồ vật, trong đó có điện thoại di động trong trường hợp cần ngăn chặn kịp thời vi phạm hành chính hoặc để bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính.

Đồng thời, theo khoản 1 Điều 128 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, việc khám đồ vật chỉ được tiến hành khi có căn cứ cho rằng trong đồ vật đó có cất giấu tang vật vi phạm hành chính.

Cơ quan công an có thẩm quyền khám điện thoại của cá nhân được quy định tại khoản 3 Điều 128 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 gồm:

- Trưởng Công an phường; Trưởng Công an cấp huyện;

- Trưởng phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Trưởng phòng Cảnh sát trật tự, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông đường bộ…

- Chiến sĩ cảnh sát nhân dân đang thi hành công vụ được khám điện thoại nếu có căn cứ cho rằng nếu không khám ngay thì tang vật vi phạm hành chính sẽ bị tẩu tán, tiêu hủy và phải báo cáo ngay cho Thủ trưởng trực tiếp của mình, chịu trách nhiệm về việc khám.

Lưu ý: Khi khám xét điện thoại thì phải có mặt của chủ điện thoại và 01 người chứng kiến. Nếu không có chủ điện thoại thì phải có 02 người chứng kiến. Mọi trường hợp khám xét điện thoại đều phải lập biên bản.

Pháp luật đã quy định chi tiết về căn cứ, thẩm quyền để tạm thu giữ, khám xét tài sản của cá nhân (bao gồm cả điện thoại di động) để phục vụ quá trình xác minh, xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên, các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền cũng chỉ được khám xét, thu giữ các dữ liệu liên quan trực tiếp đến vụ việc vi phạm hành chính. Còn các dữ liệu khác thuộc về bí mật cá nhân của người sở hữu tài sản phải được đảm bảo, tôn trọng và bảo vệ bí mật tuyệt đối.

Do đó, công an chỉ được khám xét, thu giữ các dữ liệu trong điện thoại khi chúng có liên quan trực tiếp đến vụ án, vụ việc vi phạm hành chính.

Khi điện thoại là vật chứng trong vụ án hình sự:

- Theo Điều 87, Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thì điện thoại di động được xem là nguồn chứng cứ dưới hình thức dữ liệu điện tử vì điện thoại là phương diện lưu trữ chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử. 

- Dữ liệu điện tử là một trong 07 nguồn của chứng cứ có giá trị chứng minh tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác. 

Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định, việc khám xét chỉ xảy ra trong các trường hợp:

- Khi có căn cứ để nhận định trong phương tiện đó có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, dữ liệu điện tử, tài liệu khác có liên quan đến vụ án.

- Khi cần phát hiện người đang bị truy nã, truy tìm và giải cứu nạn nhân.

Đặc biệt, có thể khám xét điện thoại nếu có căn cứ để nhận định trong điện thoại có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản liên quan đến vụ án.

Theo đó, cơ quan công an có thẩm quyền ra lệnh khám xét gồm:

- Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Trường hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành;

- Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp trong trường hợp khẩn cấp. Tuy nhiên, phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ việc, vụ án trong thời hạn 24 giờ kể từ khi khám xét xong.

Như vậy, từ các quy định nêu trên, công an có quyền thu giữ, kiểm tra điện thoại của công dân khi có căn cứ cho rằng chiếc điện thoại này là bằng chứng hoặc có liên quan trực tiếp đến vụ án, vụ việc vi phạm hành chính hoặc có liên quan hoặc là phương tiện phạm tội trong vụ án hình sự.

2. Công an có quyền yêu cầu cung cấp mật khẩu khi thu giữ điện thoại không?

Theo điều 87 và 99 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, điện thoại di động được xác định là dữ liệu điện tử vì điện thoại là phương diện lưu trữ chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử. Dữ liệu điện tử là một trong bảy nguồn của chứng cứ có giá trị chứng minh tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác.

Cơ quan công an có quyền thu giữ dữ liệu điện tử (điện thoại di động) theo các điều 88, 89, 90,107 và 196 Bộ luật Tố tụng hình sự nhằm phát hiện, ngăn chặn hành vi phạm tội, thu thập, củng cố tài liệu, chứng cứ chứng minh tội phạm và người phạm tội, thu thập các tài liệu liên quan đến việc giải quyết vụ án hoặc đảm bảo thi hành án, xử phạt.

Đáng chú ý, việc yêu cầu chủ thiết bị điện tử cung cấp mật khẩu dữ liệu điện tử là hoàn toàn hợp pháp nhằm khai thác, kiểm tra, xác minh, thu thập thông tin, dữ liệu có liên quan đến vụ việc đang giải quyết. Việc yêu cầu cung cấp mật khẩu dữ liệu thiết bị điện tử căn cứ theo điều 196, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, theo Bộ Công an. 

Ngoài việc thu giữ, kiểm tra điện thoại di động theo Bộ luật Tố tụng hình sự, cơ quan công an có thể thu giữ, kiểm tra điện thoại di động theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 trong trường hợp ngăn chặn hành vi vi phạm, ngăn chặn việc tẩu tán, tiêu hủy tang vật; xác minh hành vi vi phạm hoặc bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính.

3. Cảnh sát cơ động có được kiểm tra điện thoại người dân không?

Điện thoại thuộc quyền sở hữu của cá nhân hoặc tổ chức nên người đó có quyền sử dụng bởi điện thoại là nơi lưu trữ những dữ liệu cá nhân, bí mật cá nhân. Vì vậy, việc thu thập, lưu trữ, sử dụng và công bố thông tin liên quan đến đời sống riêng tư và quyền riêng tư phải có sự phối hợp với các bên liên quan. Các cá nhân có quyền bảo vệ thông tin riêng tư được lưu trữ trên điện thoại của mình khỏi sự xâm nhập của các cá nhân, tổ chức khác. Tuy nhiên, quyền này bị hạn chế trong một số trường hợp.

Không phải lực lượng công an nào cũng có thẩm quyền kiểm tra điện thoại. Theo quy định của pháp luật, có hai lực lượng chính thực hiện nhiệm vụ kiểm tra điện thoại, cụ thể là:

- Lực lượng công an điều tra

- Lực lượng công an có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính

Như vậy có thể thấy Cảnh sát cơ động có quyền kiểm tra điện thoại của một người nếu có lý do nghi ngờ điện thoại đó có chứa thông tin liên quan đến vụ án hình sự đang được cảnh sát điều tra hoặc điện thoại đang được sử dụng để phạm tội. Mọi trường hợp yêu cầu kiểm tra phải lập thành văn bản và đề nghị cấp trên có thẩm quyền quyết định kiểm tra, khám xét.

Xem thêm: Công an được phép nghe lén điện thoại khi điều tra vụ án hình sự?

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Công an có quyền kiểm tra điện thoại của dân không? mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.


Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!