1. Công an có được đánh người không?
Theo Điều 20 Hiến pháp năm 2013, mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.
Đối với trường hợp cần ngăn chặn kịp thời vi phạm hành chính hoặc để bảo đảm cho việc chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền có thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn: tạm giữ người; tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; khám người; khám phương tiện vận tải, đồ vật; khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính,...thì không có biện pháp nào là người có thẩm quyền được gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe đối với người thực hiện hành vi vi phạm hành chính.
Trong quá trình điều tra một vụ án hình sự thì công an không có quyền đánh đập bị can kể cả họ có phạm bất cứ tội gì. Điều này đã được cụ thể hóa thông qua Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể; không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát (trừ trường hợp phạm tội bắt quả tang) hay nghiêm cấm việc tra tấn, bức cung, dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, tính mạng, sức khỏe của con người. Nếu người thực hiện hành vi này thì có thể bị truy cứu trách nhiệm về tội dùng nhục hình được quy định tại Điều 373 Bộ luật Hình sự năm 2015 hay tội bức cung được quy định tại Điều 374 Bộ luật Hình sự năm 2015,...
2. Công an có phải là cán bộ, công chức, viên chức hay không?
Căn cứ vào khoản 3, khoản 4, khoản 5 và khoản 6 Điều 2 Luật Công an nhân dân năm 2018:
+ Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ là công dân Việt Nam được tuyển chọn, đào tạo, huấn luyện và hoạt động trong lĩnh vực nghiệp vụ của Công an nhân dân, được phong, thăng cấp bậc hàm cấp tướng, cấp tá, cấp úy, hạ sĩ quan.
+ Sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật là công dân Việt Nam được tuyển chọn, hoạt động trong lĩnh vực chuyên môn kỹ thuật của Công an nhân dân, được phong, thăng cấp bậc hàm cấp tá, cấp úy, hạ sĩ quan.
+ Hạ sĩ quan, chiến sĩ nghĩa vụ là công dân Việt Nam thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân, được phong, thăng cấp bậc hàm Thượng sĩ, Trung sĩ, Hạ sĩ, Binh nhất, Binh nhì.
+ Công nhân công an là công dân Việt Nam có trình độ chuyên môn kỹ thuật, được tuyển dụng vào làm việc trong Công an nhân dân mà không thuộc được phong cấp bậc hàm sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ.
Căn cứ vào khoản 3 Điều 61 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 13 Điều 1 Luật Cán bộ, công chức năm 2019), trưởng công an (áp dụng đối với xã, thị trấn chưa tổ chức công an chính quy theo quy định của Luật Công an nhân dân năm 2018) là công chức cấp xã.
Khoản 1 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (được sửa đổi, bổi sung bởi khoản 1 Điều 1 Luật Cán bộ, công chức) và Điều 2 Luật Viên chức năm 2010 thì:
+ Cán bộ là công dân Việt Nam được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm ký trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
+ Công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
+ Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Như vậy, sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an không phải là công chức hay viên chức.
Trường hợp người được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm vào một chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong Công an nhân dân thì có thể xác định đó là cán bộ. Đối với trường hợp người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào các ngạch, chức vụ, chức danh trong Công an nhân dân và Trường Công an xã tại xã, thị trấn chưa tổ chức công an chính quy thì có thể xác định là công chức.
3. Công an đánh dân thì bị xử lý như thế nào?
3.1. Xử lý kỷ luật
Theo quy định tại Điều 44 Luật Công an nhân dân năm 2018 về xử lý vi phạm thì sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ Công an nhân dân, công nhân công an vi phạm kỷ luật hay vi phạm pháp luật thì dựa vào từng tình chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu có gây thiệt hại cho sức khỏe, tính mạng của người khác, tài sản hoặc lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân thì phải bồi thường, bồi hoàn cho những thiệt hại mà mình gây ra.
Theo Nghị định số 112/2020/NĐ-CP về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức; quy định về các hình thức xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức như sau:
Đối với cán bộ thì có 04 hình thức xử lý kỷ luật: khiển trách, cảnh cáo, cách chức, bãi nhiệm.
Đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý thì có 04 hình thức xử lý kỷ luật sau: khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, buộc thôi việc. Còn công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý thì có 05 hình thức xử lý kỷ luật bao gồm: khiển trách, cảnh cáo, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc.
Đối với viên chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý thì có 03 hình thức kỷ luật như sau: khiển trách, cảnh cáo, buộc thôi việc. Với trường hợp viên chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý có 04 hình thức kỷ luật: khiển trách, cảnh cáo, cách chức, buộc thôi việc.
3.2. Xử lý hành chính
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình có quy định như sau: hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng.
Người thực hiện hành vi vi phạm hành chính sẽ bị tịch thu tang vật và buộc chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh (điểm a khoản 1 và điểm đ khoản 14 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP)
3.3. Xử lý hình sự
Trường hợp 1: Công an gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ
Điều 137 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ: người nào trong khi thi hành công vụ dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Trường hợp đang thi hành công vụ dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép mà:
(1) Tỷ lệ tổn thương cơ thể của 02 người trở lên mà mỗi người 31% trở lên.
(2) Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.
(3) Người đang trong khi thi hành công vụ dùng vũ lực đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ.
Nếu thuộc trường hợp trên thì người đang thi hành công vụ có thể bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Trường hợp được sử dụng vũ lực ngoài khi được phép trong khi thi hành công vụ, theo khoản 3 Điều 22 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017 thì các trường hợp được nổ súng, bao gồm:
(1) Đối tượng đang sử dụng vũ lực, vũ khí, vật liệu nổ trực tiếp đe dọa đến tính mạng người thi hành công vụ hoặc người khác.
(2) Đối tượng đang sử dụng vũ khí, vật liệu nổ tấn công hoặc đe dọa sự an toàn của công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, mục tiêu quan trọng được bảo vệ theo quy định của pháp luật.
(3) Đối tượng đang thực hiện hành vi cướp súng của người thi hành công vụ.
(4) Đối tượng đang sử dụng vũ khí gây rối trật tự công cộng có thể gây hậu quả rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng.
(5) Đối tượng đang đánh tháo người bị giam, người bị dẫn giải do phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, tái phạm nguy hiểm; người bị tạm giam, giữ, bị dẫn giải, bị áp giải do phạm tội đặc biệt nghiêm trọng đang chạy trốn hoặc chống lại.
(6) Được phép bắn vào phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiện giao thông đường thủy nội địa để dừng phương tiện đó trong các trường hợp sau, trừ phương tiện giao thông của các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự nước ngoài, cơ quan đại diện tổ chức quốc tế. Đối tượng điều khiển phương tiện đó tấn công hoặc đe dọa trực tiếp đến tính mạng người thi hành công vụ hoặc người khác.
Khi biết rõ phương tiện đó do đối tượng phạm tội điều khiển cố tình chạy trốn, trừ trường hợp trên phương tiện có chở khách hoặc có con tin.
Khi biết rõ trên phương tiện cố tình chạy trốn có đối tượng phạm tội hoặc vũ khí, vật liệu nổ trái phép, tài liệu phản động, bí mật nhà nước, ma túy số lượng lớn, tài sản đặc biệt quý hiếm, bảo vật quốc gia, trừ trường hợp trên phương tiện có chở khách hoặc có con tin.
(7) Động vật đang đe dọa đến tính mạng và sức khỏe của người thi hành công vụ hoặc người khác.
+ Chủ thể của tội phạm: người thực hiện hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ngoài những trường hợp mà pháp luật cho phép khi thi hành công vụ.
Họ là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, từ đủ 16 tuổi trở lên và đang thi hành công vụ.
+ Mặt khách quan:
Về hành vi, hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác bằng cách dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép trong khi thi hành công vụ.
Về hậu quả, hành vi mà người thực hiện hành vi đã gây ra thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% trở lên. Tỷ lệ tổn thương được xác định theo phần trăm tổn thương cơ thể được quy định tại Thông tư số 22//2019/TT-BYT quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.
Về mối quan hệ nhân quả, đây là dấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội phạm. Hành vi sử dụng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép khi thi hành công vụ phải gây hậu quả là gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% trở lên.
+ Khách thể: người thực hiện hành vi phạm tội trong khi thi hành công vụ dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác (người thực hiện hành vi phạm tội xâm phạm đến quyền được bảo hộ về sức khỏe của con người).
+ Mặt chủ quan:
Về lỗi của hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ là lỗi cố ý (lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp)
Về mục đích của hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ đã gây tổn thương cả về vật chất lẫn tinh thần cho người đó.
Trường hợp 2: Công an gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác không phải xảy ra trong khi thi hành công vụ
Trường hợp hành vi cố ý gây thương tích của công an xảy ra nhưng không phải xảy ra trong khi thi hành công vụ thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 22 Điều 1 Bộ luật Hình sự năm 2017) khi có đầy đủ các yếu tố để cấu thành tội phạm.
Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% trở lên hay dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau: dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người; dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm; có tổ chức; lợi dụng chức vụ, quyền hạn;....thì hình phạt nhẹ sẽ là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm còn nặng sẽ là bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
+ Chủ thể của tội phạm: người thực hiện hành vi phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác và phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đó. Người thực hiện hành vi phạm tội phải có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm (trừ những tội phạm mà Bộ luật Hình sự có quy định khác) và người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác.
+ Mặt khách quan của tội phạm về hành vi:
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của người khác được thể hiện thông qua hành vi sử dụng vũ lực có hoặc không có sử dụng vũ khí hoặc dùng thủ đoạn khác để tác động lên cơ thể người khác gây tổn thương cho người bị tác động. Biểu hiện của hành vi này có thể là: đánh, chém, đập, đâm, đầu độc,....
Hành vi gây tổn hại đến sức khỏe của người khác đồng thời gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên thì hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại của người thực hiện hành vi là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến những tổn thương cho người bị tác động.
+ Khách thể của tội phạm: tội phạm xâm phạm đến quyền được bảo hộ về sức khỏe của công dân.
+ Mặt chủ quan của tội phạm về hành vi: là những dấu hiệu, động cơ, mục đích, lỗi,...của tội phạm.
Về lỗi, hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe đối với người khác của người thực hiện hành vi phạm tội là lỗi cố ý. Họ nhận thức được hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và có mong muốn hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
Về mục đích, việc thực hiện hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho người khác cả về vật chất lẫn tinh thần.
4. Công an đánh dân bị kiện sẽ xử lý kỷ luật như thế nào?
Việc xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức được quy định cụ thể tại Nghị định số 112/2020/NĐ-CP về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức.
* Công an là cán bộ:
Bước 1: Tổ chức họp kiểm điểm
Bước 2: Thành lập Hội đồng kỷ luật
Bước 3: Cấp có thẩm quyền ra quyết định xử lý kỷ luật (được quy định tại Điều 20 Nghị định số 112/2020/NĐ-CP)
Dựa vào quyết định xử lý kỷ luật của cấp có thẩm quyền thì cơ quan tham mưu về công tác cán bộ của cấp có thẩm quyền xử lý kỷ luật đề xuất hình thức kỷ luật, thời điểm xử lý kỷ luật và thời gian thi hành kỷ luật.
Trường hợp cán bộ đang bị khởi tố, tạm giam, tạm giữ, tạm giam chờ kết luận của cơ quan có thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử về hành vi vi phạm pháp luật thì không thực hiện việc tổ chức họp kiểm điểm.
* Công an là công chức, viên chức:
Bước 1: Tổ chức họp kiểm điểm
Bước 2: Thành lập Hội đồng kỷ luật
Bước 3: Cấp có thẩm quyền ra quyết định xử lý kỷ luật
Trường hợp công chức, viên chức đang bị khởi tố, tạm giam, tạm giữ, tam giam chờ kết luận của cơ quan có thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử về hành vi vi phạm pháp luật thì không thực hiện việc tổ chức họp kiểm điểm.
* Công an là đảng viên:
Nếu vi phạm mà gây hậu quả (các mức hậu quả được xác định để xử kỷ luật đối với đảng viên: ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng) thì Đảng viên có thể bị xử lý kỷ luật: khiển trách, cảnh cáo, cách chức nếu có chức vụ, khai trừ (Điều 36 Quy định số 69 - QĐ/TW năm 2022)
Quy trình thi hành kỷ luật đối với đảng viên vi phạm được quy định tại Quyết định 354 - QĐ/UBKTTW như sau:
Bước 1: Chuẩn bị
Căn cứ vào kết luận kiểm tra của Ủy ban kiểm tra hoặc hồ sơ đề nghị kỷ luật của tổ chwucs đảng cấp dưới và kết quả năm tình hình, cán bộ theo dõi địa bàn đề xuất, báo cáo bằng văn bản với thường trực ủy ban.
Thưởng trực ủy ban sẽ xem xét và ban hành quyết định và kế hoạch xem xét, thi hành kỷ luật.
Đoàn kiểm tra xây dựng lịch làm việc, họp đoàn để thông báo kế hoạch, phân công nhiệm vụ cho các thành viên đoàn và chuẩn bị các văn bản, tài liệu phục vụ cho việc xem xét và thi hành kỷ luật.
Bước 2: Tiến hành
Thành viên ủy ban được phân công chỉ đại và đại diện đoàn kiểm tra làm việc với đại diện tổ chức đảng quản lý đối tượng vi phạm và đối tượng vi phạm để triển khai kết luận kiểm tra hoặc quyết định, kế hoạch xem xét, thi hành kỷ luật. Thống nhất lịch làm việc và yêu cầu đối tượng vi phạm chuẩn bị bản kiểm điểm, cung cấp tài liệu; đề nghị chỉ đạo các tổ chức đảng và đảng viên có liên quan phối hợp thực hiện.
Đoàn kiểm tra sẽ tiến hành nghiên cứu tài liệu và làm việc với đối tượng vi phạm để bổ sung vào bản kiểm điểm, thẩm tra, xác minh những nội dung chưa rõ. Sau đó, xây dựng dự thảo báo cáo đề nghị thi hành kỷ luật.
Đoàn kiểm tra được tiếp tục thẩm tra, xác minh lại những vấn đề chưa rõ, hoàn chỉnh dự thảo báo cáo đề nghị thi hành kỷ luật, trao đổi ý kiến với người đứng đầu (đơn vị theo dõi địa bàn) về báo cáo kết quả xem xét, thi hành kỷ luật; báo cáo xin ý kiến đồng chí thành viên ủy ban chỉ đạo đoàn, thường trực ủy ban (nếu cần) trước khi trình ủy ban kiểm tra.
Bước 3: Kết thúc
Ủy ban kiểm tra xem xét và đưa ra kết luận.
Đơn vị theo dõi địa bàn có ý kiến bằng văn bản báo cáo ủy ban về kết quả và hoạt động của đoàn kiểm tra.
Đoàn kiểm tra hoàn chỉnh báo cáo đề nghị thi hành kỷ luật, phối hợp với đơn vị hoặc cán bộ tổng hợp hoàn chỉnh quyết định thi hành kỷ luật của ủy ban hoặc xây dựng báo cáo, tờ trình đề nghị tổ chức đảng có thẩm quyền thi hành kỷ luật đối tượng phạm và báo cáo thành viên ủy ban chỉ đạo đoàn trước khi trình thường trực ủy ban ký, ban hành.
Thành viên ủy ban chi đạo và đại diện đoàn kiểm tra công bố quyết định kỷ luật theo thẩm quyền hoặc ủy ban ủy quyền cho tổ chức đảng có thẩm quyền công bố quyết định kỷ luật đến đối tượng vi phạm và tổ chức đảng có liên quan.
Đoàn kiểm tra họp rút kinh nghiệm; trưởng đoàn có văn bản nhận xét, đánh giá từng thành viên đoàn kiểm, gửi cho người đứng đầu các đơn vị có cán bộ tham gia đoàn và lập hồ sơ, nộp lưu trữ.
Vụ địa bàn, đơn vị, cán bộ sẽ theo dõi địa bàn giám sát việc chấp hành kết luận, quyết định của Ủy ban.
Ngoài ra, công an có thể bị xử lý kỷ luật theo quy định nội bộ ngành nếu có quy định trong văn bản nội bộ ngành có quy định xử lý kỷ luật.
Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết "Công an đánh dân bị kiện sẽ xử lý như thế nào?". Mọi vướng mắc về vấn đề này hay những vấn đề pháp lý khác thì bạn đọc vui lòng liên hệ tới bộ phận tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của Luật Minh Khuê theo số 1900.6162 để được hỗ trợ kịp thời. Xin chân thành cảm ơn bạn đọc đã theo dõi bài viết!.