Công cụ phát sinh tín dụng (CREDIT DERIVATIVE) là hợp đồng phái sinh mà giá trị thu hồi của nó được liên kết với các sự kiện có liên quan đến tín dụng, như phá sản, hạ xếp hạng tín dụng, không có khả năng chi trả, hay phá sản. Những bản thỏa thuận này phổ biến trong những năm 1990 và có vô số hình thức: hợp đồng hoán đổi tín dụng chưa chi trả, giấy nợ liên kết tín dụng, và hoán đổi thu nhập tổng thể. Các ngân hàng sử dụng sản phẩm tín dụng phát sinh để quản lý một cách tích cực rủi ro tín dụng của họ, đối với các khách hàng hay các bên đối tác tuyển chọn.

 

1. Khái niệm về công cụ phát sinh tín dụng

Công cụ phái sinh tín dụng, tiếng Anh gọi là credit derivative.

Công cụ phái sinh tín dụng là một tài sản tài chính giúp cho những bên tham gia kiểm soát được rủi ro trực tiếp của họ.

Công cụ phái sinh tín dụng sẽ gồm những hợp đồng song phương riêng tư và có thể chuyển nhượng được giữa hai bên tham gia trong mối quan hệ người cho vay và người đi vay. Nó giúp bên cho vay có thể chuyển nhượng được rủi ro vỡ nợ của bên đi vay cho một bên thứ ba.

Hiện tại đang có nhiều dạng công cụ phái sinh tín dụng khác nhau, có thể kể đến:

- Hợp đồng hoán đổi nợ xấu - CDS

- Nghĩa vụ nợ có thế chấp - CDO

- Hợp đồng hoán đổi tổng lợi tức

- Quyền chọn hoán đổi nợ xấu

- Hợp đồng kì hạn chênh lệch lợi tức

Trong tất cả trường hợp, giá cả của chúng đều tùy thuộc vào khả năng chi trả của những bên tham gia vào, như là nhà đầu tư cá nhân hoặc chính phủ.

 

1.1 Hiểu rõ hơn về công cụ phái sinh tín dụng

Cũng như tên gọi của mình, công cụ phái sinh là loại công cụ có nguồn gốc từ những công cụ tài chính khác. Chúng là những chứng khoán có giá phụ thuộc vào giá của tài sản cơ sở như là cổ phiếu hay trái phiếu. Đối với công cụ phái sinh tín dụng thì giá cả sẽ phụ thuộc vào rủi ro tín dụng của một hay nhiều tài sản cơ sở.

Có hai dạng hợp đồng phái sinh chính là quyền chọn mua và quyền chọn bán. Quyền chọn bán cho phép, nhưng không bắt buộc, bán một tài sản tại một mức giá xác định được gọi là giá thực hiện. Quyền chọn mua cũng là một quyền, không bắt buộc, mua tài sản cơ sở tại một mức giá thực hiện xác định trước.

Những nhà đầu tư sẽ sử dụng cả quyền chọn mua và quyền chọn bán nhằm phòng vệ giá hay bảo hiểm cho những trường hợp giá chứng khoán biến động ngược chiều.

Về cơ bản, các sản phẩm phái sinh đều là sản phẩm nhằm mục đích bảo hiểm và đặc biệt là công cụ phái sinh tín dụng. Những tay đầu cơ cũng sử dụng các công cụ phái sinh để đặt cược vào xu hướng giá của tài sản cơ sở.

Công cụ phái sinh tín dụng là một dạng chứng khoán nên nó sẽ không phải là tài sản hiện hữu. Thay vì vậy, nó là một hợp đồng. Hợp đồng này giúp chuyển nhượng rủi ro tín dụng của một tài sản cơ sở từ người này sang người khác mà không cần phải chuyển nhượng tài sản cơ sở thực.

Ví dụ, ngân hàng lo lắng rằng một khách hàng của họ có thể sẽ không trả nợ, nên để bảo vệ mình khỏi bị thua lỗ, họ sẽ chuyển nhượng rủi ro tín dụng này sang cho bên khác. Tuy vậy khoản nợ ấy vẫn được ghi nhận trên sổ sách của họ.

(Theo Investopedia)

Một trong những hình thức điển hình nhất của các công cụ tín dụng phái sinh là hợp đồng hoán đổi tín dụng, trong đó hai tổ chức cho vay thỏa thuận trao đổi cho nhau một phần các khỏan thanh tóan theo các hợp đồng tín dụng của mỗi bên.

Ví dụ, ngân hàng A và ngân hàng B tìm được một trung gian là công ty bảo hiểm lớn, đồng ý lập một hợp đồng hoán đổi tín dụng cho hai bên. Sau đó, ngân hàng A sẽ tiến hành chuyển một lượng tiền, giả sử 100 triệu USD, bao gồm cả lãi và vốn gốc mà ngân hàng thu từ những người vay vốn cho tổ chức trung gian.

Tương tự, ngân hàng B cũng chuyển 100 triệu USD giá trị các khỏan thanh tóan nợ cho tổ chức trung gian. Tổ chức trung gian cuối cùng sẽ chuyển những khỏan tiền này cho các bên ký hợp đồng.

Thông thường các tổ chức trung gian đều được hưởng một khỏan phí (CDS spread hay premium) cho dịch vụ trung gian mà họ thực hiện. Tổ chức trung gian cũng có thể thực hiện bảo đảm cho các bên về việc hợp đồng sẽ được hòan tất để nhận được những khỏan phí bổ sung.

Vậy các bên tham gia hợp đồng hoán đổi tín dụng nhận được lợi ích gì? Rõ ràng các ngân hàng có thể nâng cao tính đa dạng hóa của danh mục cho vay, đặc biệt nếu các ngân hàng hoạt động trong những thị trường khác nhau. Bởi vì mỗi ngân hàng hoạt động trong một thị trường khác nhau với cơ sở khách hàng khác nhau nên hợp đồng hoán đổi tín dụng cho phép các ngân hàng có thể nhận một khỏan thanh tóan từ một hệ thống thị trường rộng hơn và do vậy làm giảm sự phụ thuộc của ngân hàng vào một thị trường truyền thống duy nhất.

Một dạng khác của hợp đồng hoán đổi tín dụng hiện được sử dụng phổ biến là Hợp đồng trao đổi tòan bộ thu nhập –Total return swap. Hợp đồng này có thể bao gồm cả những tổ chức tài chính đứng ra bảo đảm cho các bên tham gia một tỷ lệ thu nhập cụ thể trên các khỏan tín dụng của họ. Ví dụ, tổ chức trung gian sẽ đảm bảo cho ngân hàng A có một tỷ lệ thu nhập trên khỏan vay kinh doanh cao hơn mức lãi suất trái phiếu dài hạn của chính phủ là 3%. Như vậy, ngân hàng A đã đổi những khỏan thu nhập rủi ro từ khỏan tín dụng lấy những khỏan thu nhập ổn định hơn.

Hợp đồng trao đổi tổng thu nhập có thể được xây dựng trên cơ sở một khỏan cho vay thương mại mà ngân hàng A mới thực hiện. Ngân hàng A sau đó đồng ý thanh tóan cho ngân hàng B tòan bộ các khỏan thu từ món vay này, bao gồm cả vốn và lãi và cả những khỏan tăng (giảm) giá trị thị trường của khỏan cho vay. Về phần mình, ngân hàng B sẽ cam kết thanh tóan cho ngân hàng A lãi suất LIBOR cộng với một lãi suất bổ sung và thanh tóan cho ngân hàng B mức giảm giá thị trường của khỏan cho vay. Về bản chất, ngân hàng B đã chấp nhận tòan bộ rủi ro tín dụng và cả rủi ro lãi suất (nếu khỏan cho vay có lãi suất thả nổi hay giá trị của khỏan cho vay nhạy cảm với những biến động trong lãi suất hị trường) gắn với khỏan cho vay của ngân hàng A. Điều này như thể ngân hàng B là người cho vay. Hợp đồng này có thể bị chấm dứt sớm nếu như người vay vốn mất khả năng thanh tóan. 1.1.2 Hợp đồng quyền chọn tín dụng (Credit options):

Một công cụ tín dụng phái sinh phổ biến hiện nay được sử dụng là Hợp đồng quyền chọn tín dụng. Hợp đồng quyền chọn tín dụng là một công cụ bảo vệ ngân hàng trước những tổn thất trong giá trị tài sản tín dụng, giúp bù đắp mức chi phí vay vốn cao hơn khi chất lượng tín dụng của ngân hàng giảm sút Ví dụ, nếu một ngân hàng lo lắng về chất lượng tín dụngcủa một khỏan cho vay 100 triệu USD mới thực hiện, ngân hàng sẽ có thể ký hợp đồng để mua quyền chọn tín dụng với một tổ chức kinh doanh quyền (option dealer). Hợp đồng này sẽ đảm bảo thanh tóan tòan bộ khỏan cho vay nếu như khỏan cho vay này giảm giá đáng kể hoặc không thể được thanh tóan. Nếu như khách hàng vay vốn trả nợ như kế hoạch, ngân hàng sẽ thu được những thanh tóan như dự tính và hợp đồng quyền chọn sẽ không được sử dụng. Như vậy, ngân hàng sẽ mất tòan bộ phí trả trên hợp đồng quyền chọn.

Ngân hàng cũng thực hiện các hợp đồng quyền tương tự để bảo vệ danh mục đầu tư trong trường hợp những tổ chức phát hành không thể hòan thành trách nhiệm thanh tóan hoặc trong trường hợp giá trị thị trường của các chứng khóan giảm sút đáng kể cho chất lượng tín dụng của tổ chức phát hành thay đổi.

Hợp đồng quyền chọn tín dụng cũng có thể được sử dụng để bảo vệ ngân hàng trước rủi ro chi phí vay vốn tăng do chất lượng tín dụng của ngân hàng giảm. Ví dụ, một ngân hàng lo ngại rằng mức xếp hạng tín dụng của nó sẽ có thể giảm trước khi ngân hàng phát hành các trái phiếu dài hạn để huy động thêm vốn do vậy ngân hàng có thể bị buộc phải trả một mức lãi suất huy động vốn cao hơn. Một giải pháp trong hòan cảnh này là ngân hàng mua hợp đồng quyền bán với mức chênh lệch lãi suất cơ bản cam kết trong hợp đồng được xác định là mức phổ biến trên thị trường hiện tại áp dụng đối với mức rủi ro tín dụng hiện tại của ngân hàng. Giống như các loại hợp đồng quyền khác, hợp đồng quyền rủi ro tín dụng cũng mang mức chênh lệch lãi suất cơ bản. Hợp đồng quyền chọn sẽ thanh tóan tòan bộ phần chênh lệch lãi suất cơ bản thực tế (so với một chứng khóan không có rủi ro) vượt lên phần chênh lệch lãi suất cơ bản thỏa thuận. Ví dụ, giả sử một ngân hàng dự tính chi phí vay vốn của nó sẽ cao hơn lãi suất trái phiếu chính phủ 5 năm là 1%. Do sự sụt giảm trong chất lượng tín dụng hay do tình trạng đình trệ của nền kinh tế, mức chênh lệch lãi suất cơ bản mà ngân hàng sẽ phải thanh tóan gần với mức chênh lệch 1% so với lãi suất của chứng khóan chính phủ. Ngược lại, nếu chênh lệch lãi suất cơ bản giảm (có thể do chất lượng tín dụng của ngân hàng tăng hay do sự phát triển của nền kinh tế), hợp đồng này sẽ không còn có hiệu lực và ngân hàng sẽ mất tòan bộ phần phí mua quyền. 1.1.3 Hợp đồng hoán đổi các khỏan tín dụng rủi ro (Credit Default Swap – CDS):

Một loại công cụ tín dụng phái sinh thông dụng khác là hợp đồng hoán đổi các khỏan tín dụng rủi ro. Những ngân hàng muốn ngăn chặn tổn thất do giá trị tài sản giảm thường sử dụng hợp đồng này. Thông qua một tổ chức trung gian Ngân hàng sẽ mua một hợp đồng quyền bán đối với một bộ phận của danh mục cho vay hay danh mục đầu tư. Ví dụ, ngân hàng vừa thực hiện một số khỏan cho vay với tổng giá trị 100 triệu USD phục vụ cho việc xây dựng một số dự án đầu tư. Do lo ngại những khỏan vay bất động sản này sẽ có vấn đề trong điều kiện nền kinh tế địa phương đang gặp khó khăn, ngân hàng quyết định mua một hợp đồng quyền bán để đề phòng trường hợp các tổ chức vay vốn không trả nợ. Và do đó, với mỗi khỏan cho vay không thể thu hồi, ngân hàng sẽ nhận được phần chênh lệch của 1 triệu USD trừ đi trị giá thanh lý của tài sản dùng làm vật thế chấp cho khỏan vay.

Ngân hàng cũng có thể tìm một tổ chức đảm bảo cho các khỏan cho vay trong trường hợp không thể thu hồi vốn. ví dụ, ngân hàng A quyết định lập hơp đồng hoán đổi tín dụng với ngân hàng B đối với khỏan cho vay xây dựng 5 năm trị giá 100 triệu USD. Theo hợp đồng này, ngân hàng A sẽ phải trả cho ngân hàng B một khỏan phí nhất định (ví dụ là 0.5% giá trị khỏan cho vay, 500.000 USD). Về phần mình, ngân hàng B sẽ cam kết thanh tóan cho ngân hàng A một số tiền nhất định hay một tỷ lệ nhất định của khỏan vay nếu như ngân hàng A không thể thu hồi.

 

1.2 Hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng là gì?

Hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng có tên gọi tiếng Anh là Credit Default Swap, viết tắt CDS. Chúng còn có tên gọi khác là công cụ chứng khoán phái sinh; hoặc hợp đồng hoán đổi rủi ro vỡ nợ tín dụng.

CDS là công cụ chứng khoán phái sinh cho phép nhà đầu tư “hoán đổi” hoặc bù đắp rủi ro tín dụng của mình với rủi ro tín dụng của nhà đầu tư khác.

Ban đầu, CDS là một loại hợp đồng bảo hiểm và được xem như một công cụ phòng vệ rủi ro tài chính. Theo đó, người mua sẽ trả phí bảo kê rủi ro để được tiền bồi thường nếu như có sự cố được bảo kê xảy ra.

Sau này, CDS được dùng như một sản phẩm đầu cơ thì nó đã thay đổi đi rất nhiều, khác biệt với một công cụ bảo hiểm đơn thuần. Người mua CDS cũng không thực sự bị thiệt hại từ sự cố vì họ không cần sở hữu chứng khoán hay tài sản cơ sở.

 

2. Cách thức hoạt động của hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng

Bản chất của CDS khá giống một hợp đồng bảo hiểm, song cách thức thực hiện lại mang tính chất của loại chứng khoán phái sinh. Cụ thể, hai bên tham gia sẽ hoán đổi cho nhau dòng tiền. Bên mua CDS sẽ phải trả một khoản phí đều đặn gọi là CDS spread theo các thời điểm quy định cho người bán cho đến khi hết hợp đồng.

Phí CDS thường có quan hệ chặt chẽ với việc xếp hạng tín nhiệm của bên đi vay; và được tính theo điểm cơ bản (tỷ lệ %) hàng năm trên mỗi đơn vị mệnh giá của hợp đồng. Khả năng phá sản của doanh nghiệp càng cao sẽ làm cho phí CDS càng tăng vọt. Loại phí này sẽ được chia theo các chuẩn 1 năm, 2 năm, 5 năm và 10 năm. Giống như các mức lãi suất kỳ hạn tại ngân hàng, với mỗi mức thời hạn sẽ có các mức phí CDS khác nhau. Trong đó, phổ biến nhất là phí CDS cho 5 năm.

Còn người bán sẽ trả cho người mua dòng tiền bảo hiểm rủi ro. Dòng tiền này sẽ bằng 0 nếu vỡ nợ không xảy ra; và bằng giá trị khoản cho vay hoặc mệnh giá của trái phiếu được bảo hiểm nếu bên đi vay/nhà phát hành trái phiếu bị vỡ nợ.

 

3. Ưu và nhược điểm của hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng

Ưu điểm: CDS vừa là công cụ phòng vệ, vừa là công cụ đầu tư (đầu cơ).

Khi mang chức năng phòng vệ, CDS được các nhà đầu tư, tổ chức sở hữu trái phiếu hay một khoản nợ mua để phòng tránh rủi ro.

Khi mang chức năng đầu tư (đầu cơ) thì người mua không cần sở hữu công cụ tín dụng cơ sở. Tuy nhiên, người mua thường là các nhà đầu tư chọn lọc rất nhạy bén. Nhà đầu tư lúc này có thể mua sự CDS cho công ty mà tiên lượng không có khả năng thanh toán hoặc có thể vỡ nợ về sau. Sau đó, chỉ cần bỏ ra một khoản phí định kỳ tương đối nhỏ và chờ đợi. Nếu công ty đó vỡ nợ trái phiếu hoặc có một số sự kiện tín dụng khác, bạn sẽ nhận được khoản tiền hoàn lại rất lớn.

Nhược điểm

– Thị trường cho CDS là OTC và không được kiểm soát, và các hợp đồng thường được giao dịch nhiều đến mức khó có thể biết ai đứng cuối mỗi giao dịch. Có khả năng bên mua rủi ro không đủ tiềm lực tài chính để tuân thủ các quy định của hợp đồng, gây khó khăn cho việc định giá hợp đồng.

– Vì là ai cũng có thể mua CDS mà không cần thiết phải sở hữu tài sản cần bảo hiểm, nên có thể khiến các bên tham gia thị trường CDS có thể vay lên đến vô hạn. Mang lại cảm giác an toàn “ảo”. Điều đó vô tình khiến CDS trở thành công cụ phái sinh đầu cơ nguy hiểm nhất. Không những thế, chúng còn có khả năng tàn phá các chính phủ vay nợ nhiều với tín nhiệm thấp.

Điển hình, hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng đối với khoản nợ của Lehman Brothers là một trong những lý do gây ra khủng hoảng tài chính năm 2008.

Bài viết tham khảo thông tin từ Investopedia, ssc.gov và tinnhanhchungkhoan.vn

Phái sinh (thuật ngữ tiếng Anh: Derivative), hay còn gọi là Chứng khoán phái sinh, là một công cụ tài chính thừa hưởng giá trị của nó từ giá trị của các thực thể cơ sở chẳng hạn như tài sản, chỉ số, hay lãi suất — bản thân nó không có giá trị nội tại.[1] Các nghiệp vụ phái sinh bao gồm một loạt hợp đồng tài chính, bao gồm các nghĩa vụ nợ và tiền gửi được cơ cấu, các hợp đồng hoán đổi, các tương lai, các quyền chọn, các trần lãi suất, các sàn lãi suất, các tròng tài chính (collar), các kỳ hạn, và các kết hợp phong phú của chúng.[2]

Để có ý tưởng về quy mô của thị trường phái sinh, tạp chí The Economist đã cho biết rằng tính đến tháng 6 năm 2011, thị trường phái sinh OTC có khối lượng khoảng 700 nghìn tỷ USD, và tổng quy mô của thị trường giao dịch qua sàn khoảng 83 nghìn tỷ USD.[3] Tuy nhiên, chúng là những giá trị "danh nghĩa", và một số nhà kinh tế nói rằng giá trị này thổi phồng giá trị thị trường và rủi ro tín dụng mà các bên liên quan thực sự phải đối mặt. Ví dụ, vào năm 2010, trong khi tổng các phái sinh OTC vượt 600 nghìn tỷ USD, giá trị của thị trường này được ước tính thấp hơn nhiều, khoảng 21 nghìn tỷ USD. Rủi ro tín dụng tương đương của các hợp đồng phái sinh ước tính khoảng 3,3 nghìn tỷ USD.[4]

Tuy nhiên, ngay cả những số liệu thu nhỏ này cũng đại diện cho một lượng lớn tiền. Để dễ hình dung, ngân sách cho tổng chi tiêu của Chính phủ Hoa Kỳ trong năm 2012 là 3,5 nghìn tỷ USD,[5] và tổng giá trị hiện tại của thị trường chứng khoán Hoa Kỳ ước khoảng 23 nghìn tỷ USD.[6] Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thế giới hàng năm là khoảng 65 nghìn tỷ USD.[7]

Và ít nhất đối với một loại phái sinh, các hoán đổi vỡ nợ tín dụng (CDS), với rủi ro vốn được coi là cao, thì giá trị danh nghĩa còn cao hơn nữa. Đó là loại phái sinh mà ông trùm đầu tư Warren Buffet nhắc tới trong bài phát biểu nổi tiếng năm 2002 của mình, trong đó ông cảnh báo về một loại "vũ khí tài chính hủy diệt hàng loạt". Giá trị danh nghĩa CDS vào đầu năm 2012 là 25,5 nghìn tỷ USD,[8] giảm xuống so với mức 55 nghìn tỷ năm 2008.[9]

Trong thực tế, phái sinh là một hợp đồng giữa hai bên xác định các điều kiện (đặc biệt là ngày tháng, giá trị kết quả và các định nghĩa của các biến cơ sở, nghĩa vụ hợp đồng của các bên, và số tiền danh nghĩa) theo đó các khoản thanh toán được thực hiện giữa các bên.[10][11] Các tài sản cơ sở phổ biến nhất bao gồm các loại hàng hóa, cổ phiếu, trái phiếu, lãi suất và tiền tệ.

Có hai nhóm hợp đồng phái sinh: các phái sinh OTC được trao đổi riêng tư như các hoán đổi mà không qua một sàn giao dịch hoặc trung gian khác, và các phái sinh trao đổi qua sàn (ETD) được giao dịch thông qua các sàn giao dịch phái sinh chuyên biệt hoặc các sàn giao dịch khác.

Các phái sinh phổ biến hơn trong thời kỳ hiện đại, nhưng nguồn gốc của chúng được tìm thấy từ vài thế kỷ trước. Một trong những phái sinh lâu đời nhất là các hợp đồng tương lai lúa gạo, đã được trao đổi trên Sàn giao dịch lúa gạo Dojima từ thế kỷ 18.[12] Các phái sinh được phân loại chung bằng mối quan hệ giữa tài sản cơ sở và phái sinh đó (như kỳ hạn, quyền chọn, hoán đổi); kiểu tài sản cơ sở (chẳng hạn như phái sinh cổ phần, phái sinh ngoại hối, phái sinh lãi suất, phái sinh hàng hóa, hoặc phái sinh tín dụng); thị trường trong đó chúng được trao đổi (ví dụ như thị trường niêm yết hoặc thị trường OTC); và hồ sơ thanh toán ngay của chúng.

Các phái sinh cũng có thể được phân loại chung là các sản phẩm "khóa cứng" hoặc "tùy chọn". Các sản phẩm khóa cứng (ví dụ như các hoán đổi, tương lai, hoặc hợp đồng kỳ hạn) ràng buộc các bên ký hợp đồng với các điều khoản trong suốt thời gian của hợp đồng. Các sản phẩm tùy chọn (ví dụ như trần lãi suất) cho người mua quyền, chứ không buộc họ phải có nghĩa vụ đối với hợp đồng theo các điều khoản quy định.

Các phái sinh có thể được sử dụng để quản lý rủi ro (nghĩa là "phòng hộ" bằng cách cung cấp bồi thường bù đắp trong trường hợp của một sự kiện không mong muốn, một loại "bảo hiểm") hoặc để đầu cơ (tức là làm một "đặt cược" tài chính). Sự phân biệt này là quan trọng bởi vì phòng hộ là chính đáng, thường là khía cạnh thận trọng của các hoạt động và quản lý tài chính đối với nhiều công ty trên nhiều ngành công nghiệp, còn việc đầu cơ cho các nhà quản lý và các nhà đầu tư một cơ hội quyến rũ để tăng lợi nhuận, nhưng không phải không có phát sinh rủi ro bổ sung thường là không được tiết lộ cho các bên liên quan.

Cùng với nhiều sản phẩm và dịch vụ tài chính khác, cải cách phái sinh là một phần của Luật Cải cách Phố Wall và Bảo vệ người tiêu dùng Dodd-Frank năm 2010. Đạo luật giao nhiều chi tiết được dùng làm quy tắc của giám sát quản lý đối với Ủy ban trao đổi các hợp đồng tương lai hàng hóa và những chi tiết này là không hoàn chỉnh cũng như không được thực hiện đầy đủ cho đến cuối năm 2012.