1. Khái niệm về công ích

Công ích là các lợi ích công cộng (thường được Nhà nước và xã hội xác nhận hoặc thừa nhận một cách đương nhiên). Tuỳ vào các ngữ cảnh khác nhau mà ý nghĩa công cộng ở đây có thể được hiểu là lợi ích trực tiếp của một cộng đồng hoặc của toàn xã hội.

Trong một số từ điển nước ngoài (như từ điển Black Law Dictionary), công ích (public interest) nhằm chỉ một điều nhất định mà công chúng, hay cộng đồng (theo nghĩa rộng), có lợi ích gắn với điều đó, hoặc một điều mà có thể ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ pháp lí của công chúng hay cộng đồng nói trên. Trên thực tế, những điều được xếp vào diện lợi ích công cộng thường liên quan đến các công việc của chính quyền địa phương, tỉnh thành hay quốc gia.

2. Nghĩa vụ lao động công ích của công dân quy định trong Pháp lệnh này bao gồm

- Nghĩa vụ lao động công ích hàng năm;

- Nghĩa vụ lao động công ích trong trường hợp khẩn cấp.

3. Nghĩa vụ công ích hàng năm

Công dân có sức lao động, nam đủ 18 tuổi đến hết 45 tuổi, nữ đủ 18 tuổi đến hết 25 tuổi có nghĩa vụ tham gia lao động công ích hàng năm.

Số ngày công lao động công ích hàng năm của mỗi công dân là không quá mười ngày công, kể cả ngày đi và về.

Ngày công lao động công ích hàng năm được sử dụng để xây dựng và tu bổ đê, kè, cống; công trình thuỷ lợi đầu mối; làm đường giao thông và phục vụ sẵn sàng chiến đấu được ghi trong kế hoạch của Trung ương và của tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương và của tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương do Nhà nước quản lý.

Người trực tiếp thực hiện nghĩa vụ lao động công ích phải hoàn thành định mức khối lượng công việc được giao.

Tuỳ theo tính chất công việc, cơ quan huy động phải thông báo rõ cho người trực tiếp tham gia lao động công ích biết, để họ mang theo công cụ lao động thông thường, thích hợp và phương tiện sinh hoạt cá nhân.

Người trực tiếp tham gia lao động công ích hàng năm được trợ cấp theo định mức lao động, được bảo đảm các chế độ bảo hộ lao động, bảo vệ sức khoẻ, điều trị khi ốm đau, hoặc khi bị tai nạn lao động trong thời gian tham gia lao động công ích, theo quy định của Hội đồng bộ trưởng.

Nếu người được huy động tham gia lao động công ích hàng năm không lao động trực tiếp được, thì có thể thuê mướn người khác làm thay; trong trường hợp không thuê mướn được thì phải nộp cho cơ quan huy động một số tiền để đủ thuê mười ngày công lao động phổ thông ở địa phương.

4. Những người sau đây được miễn thực hiện nghĩa vụ lao động công ích hàng năm

  1. Quân nhân, kể cả công nhân quốc phòng, công an nhân dân;
  2. Thương binh, bệnh binh;
  3. Bố, vợ hoặc chồng của liệt sĩ;
  4. Người giữ chức sắc tôn giáo chuyên nghiệp;
  5. Người tàn tật, người mức sức lao động.

5. Những người được tạm miễn tham gia lao động công ích trong thời gian có lệnh huy động thực hiện nghĩa vụ lao động công ích hàng năm:

  1. Người ốm đang điều trị, điều dưỡng;
  2. Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ chưa đủ ba mươi sáu tháng;
  3. Người đang trực tiếp phục vụ thương binh, bệnh binh nặng; người bị tai nạn lao động, tai nạn chiến tranh, bệnh nghề nghiệp được xếp hạng thương tật nặng;
  4. Người là lao động duy nhất đang trực tiếp nuôi người khác trong gia đinh không còn sức lao động hoặc chưa đến tuổi lao động, không nơi nương tựa;
  5. Quân nhân đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, xuất ngũ chưa đủ ba năm, kể từ ngày có quyết định xuất ngũ;
  6. Người đi xây dựng vùng kinh tế mới chưa đủ ba năm, kể từ ngày đến làm việc ở vùng kinh tế mới.

6. Các trường hợp tạm miễn lao động công ích

Những người thuộc diện thực hiện nghĩa vụ lao động công ích hằng năm nhưng tại thời điểm huy động thuộc một trong những trường hợp sau đây thì được tạm miễn thực hiện :

  1. Người đang điều trị, điều dưỡng; người duy nhất trong gia đình đang trực tiếp chăm sóc thân nhân bị ốm nặng;
  2. Cha, mẹ, vợ hoặc chồng của quân nhân tại ngũ có hoàn cảnh gia đình thực sự khó khăn được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đâu gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp xã) chứng nhận;
  3. Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng;
  4. Người chồng mà vợ chết hoặc đã ly hôn đang trực tiếp nuôi con nhỏ dưới 36 tháng;
  5. Người trực tiếp nuôi dưỡng hoặc phục vụ thương binh nặng, bệnh binh nặng, người tàn tật bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;
  6. Người thuộc lực lượng nòng cốt của dân quân tự vệ;
  7. Cán bộ, công chức nhà nước được điều động đến làm việc có thời hạn ở miền núi, vùng cao, vùng sâu, biên giới, hải đảo;
  8. Thanh niên xung phong, thanh niên tình nguyện đang làm nhiệm vụ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao;
  9. Người là lao động duy nhất trong gia đình đang trực tiếp nuôi người khác không còn khả năng lao động hoặc chưa đến tuổi lao động;
  10. Người trong hộ gia đình được Uỷ ban nhân dân cấp xã xác nhận thuộc diện hộ đói theo chuẩn mực do Chính phủ quy định;
  11. Trưởng, phó công an xã, công an viên; trưởng thôn, xóm hoặc tương đương;
  12. Nghiên cứu sinh, học viên cao học, thực tập sinh, sinh viên, học sinh học tập trung dài hạn tại các trường đại học, học viện, trường cao đẳng, trường trung học chuyên nghiệp và trường dạy nghề thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, trường đào tạo của các tôn giáo; học sinh phổ thông; người đang dạy và người đang học để xoá mù chữ;
  13. Người đang công tác, học tập, lao động ở nước ngoài.

7. Thẩm quyền huy động lao động công ích

Việc huy động công dân thực hiện nghĩa vụ lao động công ích do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết điịnh theo kế hoạch, đùng mục đích, bảo đảm công bằng, tiết kiệm và đạt hiệu quả thiết thực.

Cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định bằng văn bản để huy động công dân thực hiện nghĩa vụ lao động công ích. Trong trường hợp cấp thiết khi xảy ra thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, người có thẩm quyền được huy động trực tiế bằng lời nói, nhưng chậm nhất sau 24 giờ, kể từ khi huy động phải có quyết định huy động bằng văn bản.

Thẩm quyền quyết định huy động nghĩa vụ lao động công ích trong trường hợp cấp thiết được quy định như sau:

1- Thủ tướng Chính phủ quyết định huy động khi trường hợp cấp thiết đặc biệt nghiêm trọng xảy ra có ảnh hưởng lớn đến kinh tế - xã hội hoặc tác động nguy hiểm đến môi trường sinh thái thuộc phạm vi nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, hoặc trong một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, nhưng vượt quá khả năng giải quyết của cấp tỉnh;

2- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định huy động khi trường hợp cấp thiết xảy ra thuộc phạm vi nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, hoặc trong một huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, nhưng vượt quá khả năng giải quyết của cấp huyện;

3- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định huy động khi trường hợp cấp thiết xảy ra thuộc phạm vi nhiều xã, phường, thị trấn, hoặc trong một xã, phường, thị trấn, nhưng vượt quá khả năng giải quyết của cấp xã;

4- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã quyết định huy động khi trường hợp cấp thiết xảy ra thuộc phạm vi xã, phường, thị trấn.

Trong trường hợp không tự giải quyết được thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phải báo cáo ngay với cấp trên trực tiếp giải quyết.

8. Chế độ với người lao động công ích

- Người trực tiếp lao động thực hiện nghĩa vụ lao động công ích cách xa nơi cư trú, nếu không có điều kiện đi, về hàng ngày, thì đơn vị sử dụng (đối với lao động công ích hằng năm) hoặc cơ quan quyết định huy động (đối với trường hợp cấp thiết) bố trí nơi nghỉ, hỗ trợ việc đi lại hoặc thanh toán tiền tàu xe một lần đi, về.

- Người thực hiện nghĩa vụ lao động công ích trong trường hợp cấp thiết được bồi dưỡng. Mức bồi dưỡng một ngày làm việc bằng tiền lương một ngày của mức lương tối thiểu chung. Trường hợp làm việc vào ban đêm (từ 22 giờ đến 6 giờ sáng) được bồi dưỡng gấp đôi. Nếu làm việc ở nơi có yếu tố độc hại, nguy hiểm thì được trang bị các phương tiện bảo hộ lao động và được bồi dưỡng như đối với người lao động làm việc cùng môi trường thuộc khu vực sản xuất, kinh doanh.

Các chế độ bồi dưỡng được tính theo số giờ thực tế làm việc hàng ngày. Làm việc từ 2 giờ đến 4 giờ được tính nửa ngày, làm việc từ trên 4 giờ đến 8 giờ được tính cả ngày; trường hợp phải làm thêm giờ thì số giờ làm thêm được tính gấp đôi.

Ngoài chế độ bồi dưỡng quy định, người thực hiện nghĩa vụ lao động công ích trong trường hợp cấp thiết cách xa nơi cư trú, không có điều kiện đi, về hàng ngày được hỗ trợ tiền ăn. Mức hỗ trợ do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi xảy ra tình trạng cấp thiết quy định.

- Người trực tiếp lao động thực hiện nghĩa vụ lao động công ích nếu bị tai nạn lao động thì được thanh toán chi phí y tế trong quá trình sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định thương tật. Trường hợp người bị tai nạn làm suy giảm khả năng lao động thì được xét trợ cấp tuỳ theo mức độ suy giảm khả năng lao động. Nếu người bị tai nạn chết, kể cả chết trong thời gian điều trị lần đầu, thì người trực tiếp lo mai táng được nhận tiền mai táng; gia đình hoặc thân nhân của người đó được trợ cấp một lần.

Chính phủ quy định cụ thể chi phí y tế, tiền mai táng và các chế độ trợ cấp.

- Người bị ốm đau trong khi trực tiếp lao động thực hiện nghĩa vụ lao động công ích, nếu có thẻ bảo hiểm y tế thì được cơ quan bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám, chữa bệnh theo quy định của Điều lệ bảo hiểm y tế; người chưa tham gia bảo hiểm y tế được hưởng quyền lợi như người có bảo hiểm y tế, trừ trường hợp ốm đau khi thực hiện nghĩa vụ lao động công ích hằng năm tại công trình của xã, phường, thị trấn.

- Người dũng cảm cứu người khác, cứu tài sản của Nhà nước, của nhân dân hoặc đấu tranh chống tội phạm trong khi thực hiện nghĩa vụ lao động công ích, nếu bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên được xét hưởng chính sách như thương binh, nếu hy sinh được xét công nhận là liệt sĩ.

- Người đi lao động thay cho người có nghĩa vụ lao động công ích hằng năm có trách nhiệm và được hưởng các quyền lợi như người trực tiếp lao động thực hiện nghĩa vụ lao động công ích.

9. Tác động của lao động công ích

Hiện nay nhiều đề xuất của đại biểu Quốc hội cho rằng nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của việc xử lý hành chính nên quy định về việc người vi phạm phải chịu phạt lao động công ích.

Việc áp dụng hình thức này sẽ tác động trực tiếp đến người vi phạm vì sức lao động không thể thay thế được. Đồng thời lao động công ích sẽ tác động tích cực trong việc hình thành ý thức pháp luật, qua đó người vi phạm nhận thấy được bổn phận, trách nhiệm của mình với cộng đồng và cả với những người xung quanh.

Ngoài ra, nếu còn vấn đề vướng mắc hoặc băn khoăn về những nội dung trên Quý khách hàng có thể liên hệ tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900.6162 để được giải đáp thêm.

Trân trọng./.

Luật Minh KHuê (tổng hợp & Phân tích)