Công tác phí khoản chỉ trả cho công chức được cử đi công tác ngoài nơi làm việc thường xuyên để thanh toán tiền vé tàu, xe... cho bản thân và cước phí hành lí, tài liệu mang theo để làm việc một thời gian nhất định; phụ cấp công tác phí trong những ngày trên đường đi và ở tại nơi đến công tác.

Sự liên kết của hai hay nhiều cá nhân hoặc pháp nhân bằng một sự kiện pháp lí nhằm tiến hành các hoạt động để đạt được mục tiêu chung nào đó.

Công ti có các đặc điểm sau: 1) Sự liên kết của ít nhất hai cá nhân hoặc pháp nhân; 2) Sự liên kết được thực hiện thông qua sự kiện pháp lí (điều lệ, hợp đồng hoặc quy chế); 3) Sự liên kết hướng tới mục tiêu là thực hiện hoạt động chung nào đó.

Căn cứ vào mục đích của sự liên kết, công ti được chia thành công tí dân sự và công ti kinh doanh. Căn cứ vào tính chất liên kết, chế độ trách nhiệm của công tỉ và của thành viên công ti, công ti được chia thành nhiều loại như công ti hợp danh, công tỉ trách nhiệm hữu hạn và công ti cổ phần.

Ở Việt Nam, thuật ngữ công ti tồn tại từ trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Nhưng lúc bấy giờ, thuật ngữ công ti dùng để chỉ đơn vị kinh tế nhà nước hoạt động kinh doanh thương mại hoặc dịch vụ. Thuật ngữ công ti theo nghĩa này là thuật ngữ sử dụng không chính thức.

Pháp luật Việt Nam hiện hành quan niệm công ti là tổ chức do nhà đầu tư đầu tư vốn thành lập để thực hiện hoạt động kinh doanh nhằm tìm kiếm lợi nhuận.

Luật công ti năm 1990 ghi nhận công ti là doanh nghiệp trong đó các thành viên cùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ti trong phạm vi phần vốn góp của mình vào công ti. Thuật ngữ công tỉ theo Luật công ti năm 1990 không bao quát hết tất cả các loại hình công ti mà chỉ chính xác đối với loại hình công tỉ đối vốn.

Luật doanh nghiệp năm 1999 không xác định thuật ngữ công ti nói chung mà chỉ xác định khái niệm các loại công ti cụ thể như công tỉ trách nhiệm hữu hạn, công ti cổ phần và công ti hợp danh. Tuy nhiên, Luật doanh nghiệp năm 1999 thừa nhận tất cả các loại công tỉ trên là doanh nghiệp do các nhà kinh doanh đầu tư vốn thành lập để thực hiện hoạt động kinh doanh. nhằm tìm kiếm lợi nhuận.

Luật doanh nghiệp năm 1999 không chỉ sử dụng thuật ngữ công ti để chỉ các doanh nghiệp do sự liên kết của 2 chủ thể trở lên thành lập mà còn công nhận loại hình công ti trách nhiệm hữu hạn chỉ có thành viên là pháp nhân. Trước đó, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 cũng quy định doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài do 1 cá nhân, tổ chức là nhà đầu tư nước ngoài thành lập được tổ chức dưới hình thức công tỉ trách nhiệm hữu hạn.

Luật doanh nghiệp năm 2005, ngoài việc xác định các loại công ti trách nhiệm hữu hạn, công tỉ cổ phần và công ti hợp doanh như luật doanh nghiệp năm 1999 còn xác định thêm doanh nghiệp tư nhân thuộc mọi thành phần kinh tế, nhóm công tỉ (công ti mẹ - công ti con; tập đoàn kinh tế; các hình thức khác).