và Công ty có quyền khám tài sản cá nhân (túi sách, balo..) của nhân viên không?

- Vì công ty nói rằng đây chỉ là khám vật ngoài thân của nhân viên và họ có quyền làm như thế - việc kiểm tra này có phù hợp với pháp luật hiện hành không ah? - Công ty sẽ phải chịu hình thức kỷ luật nào nếu tiến hành khám người trái phép?

Em cám ơn! (Người hỏi: Nguyễn Liên, tỉnh Bình Dương)

 

Luật sư tư vấn: 

1. Căn cứ pháp lý về khám xét người 

- Hiến pháp năm 2013;

- Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Luật lao động năm 2012 (thay thế bởi bộ luật lao động năm 2019);

- Nghị định 28/2020/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động việt nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;

 

2. Bảo vệ có quyền kiểm tra túi, balo của nhân viên công ty ?

Khám người là tìm tòi, lục soát trong người, quần áo đang mặc và các đồ vật đem theo nhằm phát hiện, thu giữ công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án do Điều tra viên tiến hành khi có căn cứ để nhận định có trong người đối tượng bị khám.

Điều 14, Điều 20, Điều 21 Hiến pháp năm 2013 quy định như sau:

"Điều 14.

1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.

2. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng."

"Điều 20.

1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.

2. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam, giữ người do luật định.

3. Mọi người có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác theo quy định của luật. Việc thử nghiệm y học, dược học, khoa học hay bất kỳ hình thức thử nghiệm nào khác trên cơ thể người phải có sự đồng ý của người được thử nghiệm."

"Điều 21.

1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình.

Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn.

2. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác.

Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác."

Theo các quy định trên có thể thấy tinh thần của Hiến pháp 2013 quy định: Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.

Do đó, việc Công ty quý khách yêu cầu tất cả các nhân viên trước khi ra khỏi công ty (hết giờ làm) phải đưa túi xách/balo/túi cá nhân cho bảo vệ công ty kiểm tra là hành vi khám người. Việc Công ty quy định khám xét nhân viên như nội dung quý khách cung cấp là hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người lao động. Đồng thời vi phạm điều 20 của Hiến pháp quy định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm”. Vì vậy, công ty không có quyền khám xét túi xách, balo của nhân viên...

 

3. Khám xét người không đúng quy định bị xử lý thế nào ?

Việc khám xét người, hay cụ thể trong trường hợp này là vật ngoài thân của người khác không phải ai cũng có quyền làm điều đó.

Theo Điều 193, Điều 194, Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 thì việc khám xét người được quy định cụ thể như sau:

"Điều 193. Thẩm quyền ra lệnh khám xét

1. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này có quyền ra lệnh khám xét. Lệnh khám xét của những người được quy định tại khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành.

2. Trong trường hợp khẩn cấp, những người có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 110 của Bộ luật này có quyền ra lệnh khám xét. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi khám xét xong, người ra lệnh khám xét phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ việc, vụ án.

3. Trước khi tiến hành khám xét, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp về thời gian và địa điểm tiến hành khám xét để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc khám xét, trừ trường hợp khám xét khẩn cấp. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc khám xét. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản khám xét.

4. Mọi trường hợp khám xét đều được lập biên bản theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật này và đưa vào hồ sơ vụ án."

Điều 194. Khám xét người

1. Khi bắt đầu khám xét người, người thi hành lệnh khám xét phải đọc lệnh và đưa cho người bị khám xét đọc lệnh đó; giải thích cho người bị khám xét và những người có mặt biết quyền và nghĩa vụ của họ.

Người tiến hành khám xét phải yêu cầu người bị khám xét đưa ra các tài liệu, đồ vật có liên quan đến vụ án, nếu họ từ chối hoặc đưa ra không đầy đủ các tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án thì tiến hành khám xét.

2. Việc khám xét người phải do người cùng giới thực hiện và có người khác cùng giới chứng kiến. Việc khám xét không được xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người bị khám xét.

3. Có thể tiến hành khám xét người mà không cần có lệnh trong trường hợp bắt người hoặc khi có căn cứ để khẳng định người có mặt tại nơi khám xét giấu trong người vũ khí, hung khí, chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án.”.

Theo quy định này có thể thấy: khám xét người, về thủ tục, việc khám xét phải có lệnh. Khi bắt đầu khám xét người, người thi hành lệnh khám xét phải đọc lệnh, phải đưa cho người bị khám xét đọc lệnh đó.

Người tiến hành khám xét phải yêu cầu người bị khám xét đưa ra các tài liệu, đồ vật có liên quan đến vụ án. Nếu người bị khám xét từ chối hoặc đưa ra không đầy đủ các tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án thì tiến hành khám xét.

Đồng thời, để đảm bảo không xâm phạm đến các quyền của người khám xét thì việc khám xét không được xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người bị khám xét.

Việc khám xét người phải do người cùng giới thực hiện và có sự chứng kiến của người khác cùng giới.

Như vậy, Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định cụ thể việc khám xét người. Việc khám xét người chỉ thực hiện khi có lệnh, và chỉ cơ quan có thẩm quyền mới được tiến hành khám xét.

Do đó, không có bất kỳ cá nhân, lãnh đạo nào công ty có quyền khám xét người, cụ thể khám xét túi xách, balo, vali...của nhân viên trước khi ra về. Việc khám xét này xâm phạm đến thân thể, danh dự, nhân phẩm của nhân viên trong công ty.

Đối với hành vi vi phạm này, quý khách có thể làm đơn đề nghị công đoàn giải quyết hoặc thanh tra lao động vào cuộc giải quyết. Tùy từng hậu quả gây ra, cơ quan có thẩm quyền sẽ xử lý theo quy định pháp luật. Tùy từng động cơ, mục đích và hậu quả xảy ra. Hành vi này có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Hiện tại, theo Nghị định 28/2020/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động thì chưa ghi nhận nội dung doanh nghiệp có hành vi xâm phạm thân thể, nhân phẩm của người lao động thì bị xử phạt. Tại Điều 18 của Nghị định này chỉ đang đề cập quy định phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động khi có một trong các hành vi Xâm phạm thân thể, nhân phẩm của người lao động khi xử lý kỷ luật lao động mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

Do vậy, khi quý khách tố cáo hành vi đến thanh tra lao động, phía thanh tra sẽ phải kiểm tra, xem xét các vi phạm và hậu quả của doanh nghiệp đã gây ra cụ thể như thế nào để xác định mức phạt cụ thể hơn.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi, Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài - Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng cảm ơn!

Bộ phận tư vấn Pháp luật  - Công ty Luật Minh Khuê