Luật sư tư vấn:

1. Thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử

Theo quy định tại điều 196 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì:

Dữ liệu điện tử được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử như máy tính, điện thoại, máy Fax, vô tuyến truyền hình... Các thông tin trong đó có thể liên quan đến vụ án hình sự. Vì vậy, Điều 87 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Dữ liệu điện tử có thể được thu giữ từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông, trên đường truyền và các nguồn điện tử khác.

Phương tiện điện tử phải được thu giữ kịp thời, đầy đủ, mô tả đúng thực trạng và niêm phong ngay sau khi thu giữ. Việc niêm phong, mở niêm phong được tiến hành theo quy định của pháp luật.

Trường hợp không thể thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng sao lưu dữ liệu điện tử đó vào phương tiện lưu trữ và thu giữ, bảo quản như đối với vật chứng, đồng thời yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan lưu trữ, bảo toàn nguyên vẹn dữ liệu điện tử mà cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã sao lưu và cơ quan, tổ chức, cá nhân này phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Khi thu thập, chặn thu, sao lưu dữ liệu điện tử từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc trên đường truyền, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải lập biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án.

 

2. Thu giữ thư tin, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại cơ quan, tổ chức bưu chính, viễn thông

Theo quy định tại điều 197 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, thì:

Thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm cần thu giữ là những thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm đang ở tại cơ quan, tổ chức bưu chính, viễn thông. Nếu đã gửi đi hoặc ttả cho người nhận thì việc thu giữ chúng được áp dụng theo thủ tục tạm giữ đồ vật, tài liệu khi khám xét quy định tại Điều 198 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra, khi có căn cứ cho rằng thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại cơ quan, tổ chức bưu chính, viễn thông có liên quan đến vụ án cần phải thu giữ thì cơ quan điều tra ra lệnh thu giữ. Lệnh này phải được viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành, trừ trường hợp không thể trì hoãn nhưng phải ghi rõ lí do vào biên bản và sau khi thu giữ phải thông báo ngay cho viện kiểm sát cùng cấp để xét phê chuẩn.

Trước khi tiến hành thu giữ, người thi hành lệnh phải thông báo cho người phụ trách cơ quan cơ quan, tổ chức bưu chính, viễn thông biết. Người này có trách nhiệm giúp đỡ người thi hành lệnh thu giữ hoàn thành nhiệm vụ. Khi tiến hành thu giữ phải có đại diện của cơ quan, tổ chức bưu chính, viễn thông chứng kiến và kí xác nhận vào biên bản.

Cơ quan ra lệnh thu giữ phải thông báo cho người có thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm bị thu giữ biết. Trường hợp việc thông báo cản trở điều tra thì sau khi cản ưở đó không còn nữa, người ra lệnh thu giữ phải thông báo ngay.

 

3. Tạm giữ đồ vật, tài liệu khi khám xét

Theo quy định tại điều 198 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì:

Khi khám xét, điều tra viên có quyền tạm giữ những đồ vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm; tiền bạc và những vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội cũng như tài liệu có liên quan trực tiếp đến vụ án. Đối với những đồ vật thuộc loại cấm tàng trữ, lưu hành thì phải thu giữ và chuyển ngay cho cơ quan quản lí có thẩm quyền. Trong trường hợp cần thiết phải niêm phong thì tiến hành niêm phong trước mặt chủ sở hữu đồ vật, người quản lí đồ vật, đại diện gia đình, đại diện chính quyền, cơ quan, tể chức nơi khám xét và người chứng kiến.

Khi tạm giữ tài liệu, đồ vật, điều tra viên phải lập biên bản theo quy định chung. Biên bản tạm giữ được lập thành bốn bản, một bản giao cho người chủ đồ vật, tài liệu hoặc người quản lí đồ vật, tài liệu; một bản đưa vào hồ sơ vụ án; một bản gửi cho viện kiểm sát cùng cấp và một bản giao cho cơ quan quản lí đồ vật, tài liệu bị tạm giữ.

 

4. Khám xét theo thủ tục hành chính

(1) Việc khám xét nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là nhà ở được tiến hành khi có căn cứ cho rằng ở nơi đó có cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.

(2) Việc khám xét được tiến hành theo trình tự, thủ tục như sau:

**Trước khi tiến hành khám xét:

- Chủ tịch UBND cấp huyện xem xét, quyết định khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là nhà ở.

- Mọi trường hợp khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính phải có quyết định bằng văn bản và phải lập biên bản. Quyết định và biên bản khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính phải được giao cho người chủ nơi bị khám 01 bản.

**Trong quá trình khám xét:

- Khi khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính phải có mặt người chủ nhà, nơi bị khám hoặc người thành niên trong gia đình họ và người chứng kiến. Trong trường hợp người chủ nơi bị khám, người thành niên trong gia đình họ vắng mặt mà việc khám không thể trì hoãn thì phải có đại diện chính quyền và 02 người chứng kiến.

Lưu ý: KHÔNG ĐƯỢC khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính vào ban đêm, trừ trường hợp khẩn cấp hoặc việc khám đang được thực hiện mà chưa kết thúc nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.

 

5. Khám xét theo thủ tục tố tụng hình sự

Việc khám nhà theo thủ tục tố tụng hình sự chỉ được thực hiện khi:

(1) Có căn cứ để tiến hành

Việc khám xét chỉ được tiến hành nếu có một trong các căn cứ sau:

- Khi có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, dữ liệu điện tử, tài liệu khác có liên quan đến vụ án.

- Khi cần phát hiện người đang bị truy nã, truy tìm và giải cứu nạn nhân.

(2) Khám xét theo đúng thủ tục

Việc khám xét chỗ ở, nơi làm việc cần được tiến hành theo trình tự, thủ tục như sau:

**Trước khi tiến hành khám xét:

+ Trước khi tiến hành khám xét, những người có thẩm quyền theo Khoản 2 Điều 35, Khoản 1 Điều 113 BLTTHS 2015 cần ra lệnh khám xét. Lệnh khám xét của những người được quy định tại khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 113 của BLTTHS 2015 phải được VKS có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành.

+ Trong trường hợp khẩn cấp, những người có thẩm quyền ra lệnh giữ người khẩn cấp theo Khoản 2 Điều 110 BLTTHS 2015 có quyền ra lệnh khám xét.

Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi khám xét xong, người ra lệnh khám xét phải thông báo bằng văn bản cho VKS cùng cấp hoặc VKS có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ việc, vụ án.

+ Trước khi tiến hành khám xét, Điều tra viên phải thông báo cho VKS cùng cấp về thời gian và địa điểm tiến hành khám xét để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc khám xét, trừ trường hợp khám xét khẩn cấp. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc khám xét. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản khám xét.

Mọi trường hợp khám xét đều được lập biên bản theo quy định và đưa vào hồ sơ vụ án.

**Trong quá trình khám xét:

+ Đối với chỗ ở của cá nhân thì phải có mặt người đó hoặc người từ đủ 18 tuổi trở lên cùng chỗ ở, có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người chứng kiến.

Trường hợp cá nhân đó, người từ đủ 18 tuổi trở lên cùng chỗ ở cố tình vắng mặt, bỏ trốn hoặc vì lý do khác họ không có mặt mà việc khám xét không thể trì hoãn thì việc khám xét vẫn được tiến hành nhưng phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi khám xét và 02 người chứng kiến.

+ Đối với nơi làm việc của cá nhân thì phải có mặt người đó, trừ trường hợp không thể trì hoãn nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.

Việc khám xét nơi làm việc phải có đại diện của cơ quan, tổ chức nơi cá nhân làm việc chứng kiến. Trong trường hợp không có đại diện cơ quan, tổ chức thì việc khám xét vẫn được tiến hành nhưng phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi khám xét và 02 người chứng kiến.

 

6. Khái niệm tạm giữ tài liệu, đồ vật khi khám xét trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Điều 198 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định như sau:

“- Khi khám xét, Điều tra viên được tạm giữ đồ vật là vật chứng và tài liệu có liên quan trực tiếp đến vụ án. Đối với đồ vật thuộc loại cấm tàng trữ, lưu hành thì phải thu giữ và chuyển ngay cho cơ quan quản lý có thẩm quyền. Trường hợp cần thiết phải niêm phong thì tiến hành trước mặt chủ sở hữu đồ vật, người quản lý đồ vật, người chứng kiến, đại diện gia đình, đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi khám xét.

Việc tạm giữ tài liệu, đồ vật khi tiến hành khám xét được lập biên bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này. Biên bản tạm giữ được lập thành bốn bản, trong đó một bản giao cho người chủ tài liệu, đồ vật hoặc người quản lý tài liệu, đồ vật, một bản đưa vào hồ sơ vụ án, một bản giao cho Viện kiểm sát cùng cấp và một bản giao cho cơ quan quản lý tài liệu, đồ vật bị tạm giữ”.

 

7. Quy định về việc tạm giữ tài liệu, đồ vật khi khám xét trong tố tụng hình sự

– Điều 198 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định Điều tra viên chỉ được tạm giữ những đồ vật là vật chứng của vụ án và những tài liệu có liên quan trực tiếp đến vụ án. Điều luật cũng quy định Điều tra viên được tạm giữ những đồ vật khác tuy không có liên quan đến vụ án nhưng lại là những thứ mà Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành như: tài liệu phản động, văn hoá phẩm đồi trụy, chất nổ, chất phóng xạ…

– Các đồ vật cần phải niêm phong khi tạm giữ là các chất ma tuý, vàng, bạc, đá quý và các loại đồ vật khác mà điều tra viên xét thấy cần thiết phải niêm phong. Để đảm bảo những đồ vật thu giữ không bị mất mát, đổi chác phải tiến hành việc niêm phong trước mặt chủ đồ vật hoặc đại diện gia đình, đại diện chính quyền và người chứng kiến.

– Trong biên bản thu giữ đồ vật, tài liệu phải miêu tả chủng loại, đặc điểm, màu sắc, số lượng, trọng lượng, chất lượng, kích thước của những đồ vật bị tạm giữ.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực tố tụng hình sự về điều tra vụ án hình sự, khám xét người hoặc chỗ ở, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê