Mục lục bài viết
1. Khái niệm và đặc điểm của công ty hợp danh
1.1 Khái niệm
Điều 177. Công ty hợp danh1. Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó:a) Phải có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh). Ngoài các thành viên hợp danh, công ty có thể có thêm thành viên góp vốn;b) Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty;c) Thành viên góp vốn là tổ chức, cá nhân và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty.2. Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.3. Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.
.png)
>> Luật sư tư vấn pháp luật Doanh nghiệp, gọi: 1900.6162
Là một hình thức công ty ra đời sớm nhất trong lịch sử loài người, công ty hợp danh bao giờ cũng được nhắc tới trước tiên trong các đạo luật hay các công trình nghiên cứu về công ty. Theo pháp luật Việt Nam hiện nay công ty hợp danh bị gắn với một hình thức công ty khác là công ty hợp vốn đon giản để cùng được gọi là "công ty hợp danh". Trong tiêhg Anh, công ty hợp danh được gọi là "general partnership" hay "simply partnership", còn công ty hợp vốn đơn giản được gọi là "limited partnership". Ở các nước thuộc họ pháp luật Anh- Mỹ, mỗi dạng công ty nói trên có qui chế pháp lý riêng để điều tiết việc thành lập và vận hành.
Xét về bản châ't từ thuở ban đầu, công ty hợp danh là sự liên kết của các thương nhân đơn lẻ. Cho đến nay dù có đôi chút thay đổi về chủ thể tham gia vào sự liên kết đó, thì sự nhận thức như vậy về bản châ't của công ty hợp danh vẫn có giá trị trong việc giải thích nhiều vâh đề pháp lý liên quan. Có thể hiểu một cách giản dị, công ty hợp danh là công ty của hai hay nhiều người cùng tiến hành hoạt động kinh doanh dưới một tên hãng chung nhằm mục tiêu lợi nhuận. Một công ty hợp danh được xem là một người và cùng với nó là các chủ sở hữu của nó
1.2 Đặc điểm
Công ty hợp danh có các đặc điểm rõ ràng và khác biệt với nhiều hình thức công ty khác.
Đặc điếm thứ nhất: Công ty họp danh là công ty được thành lập bởi hai hay nhiều người. Do đó không thể có công ty hợp danh chỉ có một thành viên. Ở đây cần phải phân biệt giữa công ty hợp danh và công ty hợp vôn đon giản. Công ty hợp vốn đon giản là công ty có thể có ít nhất một thành viên nhận vốn và ít nhất một thành viên góp vốn. Đê’ phân biệt giữa hai loại công ty này cẩn nghiên cứu tình huống được đem ra phân tích ở dưới các đặc điểm được nêu ở đây.
Đặc điểm thứ hai: Mỗi thành viên của công ty hợp danh đều có một phần quyền lợi trong công ty. Luật Doanh nghiệp 2020 gọi đây là phần vốn góp của các chủ sở hữu công ty. Phẩn quyền lợi trong công ty họp danh, phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn và cổ phần trong công ty cổ phần đều có bản chất tài sản. Nhưng phần quyền lợi trong công ty họp danh có qui chế pháp lý khác biệt với phần vốn góp và cổ phần.
Đặc điểm thứ ba: Các thành viên của công ty hợp danh phải chịu trách nhiệm cá nhân, liên đới và vô hạn định với các khoản nợ của công ty.
Đặc điểm thứ tư: Mỗi thành viên của công ty họp danh đều có tư cách thương nhân và đều là đại diện theo pháp luật của công ty.
Đặc điểm thứ năm: Công ty hợp danh là một hình thức công ty đôì nhân. Các thành viên của công ty liên kết với nhau dựa trên môì quan hệ gần gũi và tin tưởng lẫn nhau.
Đặc điểm thứ sáu: Công ty hợp danh có tên hãng chung (hay còn gọi là hội danh) được đặt ra mà trong đó có thể bao gổm tên của một hay nhiều thành viên của công ty. Luật Doanh nghiệp 2020 không qui định về cách thức đặt tên như vậy. Tuy nhiên ở các nước trên thế giới và thực tiễn ở Việt Nam, người ta đặt tên công ty hợp danh như vậy, ví dụ: Ngô Huy Anh và công ty; Ngô Huy Quang Minh và bạn hữu...
2. Quản trị và vận hành công ty hợp danh
Các thành viên công ty hợp danh là những người hoàn toàn bình đẳng và quan hệ với nhau theo kiểu mỗi trong sô' họ đều là chủ ủy và thụ ủy của nhau. Đây được xem là nêh móng của chế định công ty hợp danh. Chẳng hạn: Công ty hợp danh ABC có ba thành viên là A, B và c mà quan hệ của họ với nhau phải theo cách thức như sau: (i) A là thụ ủy của B và c, có nghĩa là B và c là chủ ủy của A; (ii) B là thụ ủy của A và c, có nghĩa là A và c là chủ ủy của B; (iii) c là thụ ủy của A và B, có nghĩa là A và B là chủ ủy của c. Như vậy về nguyên tắc họ hoàn toàn phải quyết định vân đề theo nguyên tắc nhất trí. Mỗi người trong sô' họ đều có quyền phủ quyết. Tuy nhiên họ có thể thống nhất lựa chọn ra người quản lý công ty mà người này có thê’ là một người không phải là thành viên của công ty hoặc là một thành viên công ty. Lưu ý rằng khi một người không phải là thành viên công ty được chọn làm người quản lý công ty hợp danh thì người này có quyền đại diện cho công ty hợp danh nhưng không có tư cách thương nhân.
Công ty hợp danh mang bản châ't hợp đổng sâu sắc. Do đó nêù họp đổng thiết lập công ty họp danh không qui định ai là người quản lý công ty thì mỗi thành viên công ty đều là người quản lý công ty. Và họ phải quyết định theo nguyên tắc nhất trí. Tuy nhiên hiện nay nguyên tắc này bị điều giảm. Trường hợp người quản lý công ty bị chê't mà các thành viên không nhất trí được việc chỉ định một người quản lý mới thì họ cũng phải hành xử với nguyên tắc này.
Nếu họp đổng thành lập công ty hợp danh đã âh định sẵn một thành viên công ty làm quản lý công ty thì các thành viên công ty không thể quyết định châm dứt được chức vụ quản lý này bởi nó là một điểu kiện của hợp đồng thành lập công ty mà người quản lý công ty đã tham gia giao kết nó. Việc hủy bỏ điều kiện đó của họp đổng phải có lý do chính đáng và phải được tòa án ra phán quyê't. Tuy nhiên các qui tắc này không áp dụng cho người quản lý công ty mà không phải là thành viên công ty mặc dù chức vụ của người này đã được ân định trong hợp đồng thành lập công ty bởi bản thân người này không tham gia giao kết hợp đổng thành lập công ty đó và điều khoản thiết lập chức vụ của người này không phải là điều kiện hợp thành hợp đồng thành lập công ty mà chỉ là điều khoản ủy quyêh gắn vào hợp đồng thành lập công ty. Người quản lý mà là thành viên công ty không thể đơn phương chấm dứt chức vụ của mình. Nhưng người quản lý mà không phải là thành viên công ty có thể đơn phương châm dứt chức vụ của mình.
Các qui tắc cơ bản về quản trị công ty hợp danh cho thâý cơ câù quản trị có hai định chế quan trọng- đó là hội đổng thành viên và người quản lý công ty. Ngày nay người ta thường duy trì một qui chế tương đối mềm mỏng đối với quản trị công ty hợp danh để bảo đảm cho nó hoạt động một cách linh động và có hiệu quả. Luật Doanh nghiệp 2020 củng đi theo khuynh hướng đó, tuy nhiên không thê’ coi đó là hoàn thiện.
Hội đồng thành viên là nơi tập họp của tất cả các thành viên của công ty hợp danh. Việc hoạt động của hội đổng này hoàn toàn lệ thuộc vào hợp đồng thành lập công ty hay điều lệ công ty. Luật Doanh nghiệp 2020 đã can thiệp khá sâu vào vẩh đề quản trị công ty hợp danh bằng cách qui định dứt khoát về việc hội đồng thành viên phải bầu ra một thành viên làm chủ tịch hội đổng thành viên giống với mô hình quản trị công ty trách nhiệm hữu hạn mà đạo luật này tạo dựng nên, và vị chủ tịch này kiêm giám đốc hoặc tổng giám đốc công ty họp danh nêù Điều lệ công ty không qui định khác. Đạo luật này cũng xông thẳng vào các vâh đề vận hành cụ thê’ của công ty họp danh bằng cách, nêù điều lệ công ty không qui định khác, tuyên bô' một tỷ lệ 3/4 tổng sô' thành viên tán thành đê’ giải quyết các vâh đề lớn của công ty như: Phương hướng phát triêh công ty; sửa đổi, bổ sung điểu lệ công ty; kết nạp thành viên mới; cho thành viên hợp danh rút khỏi công ty hoặc khai trừ thành viên; quyết định các dự án đầu tư; quyết định vay, huy động vốn; cho vay với giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% vốn điều lệ của công ty; quyết định thông qua báo cáo tài chính hàng năm, tổng số lợi nhuận được chia và số lợi nhuận chia cho từng thành viên; giải thế công ty... (Điều 135, khoản 3). Việc định ra một tỷ lệ phần trăm phiếu bầu cho việc ra các quyết định của công ty hợp danh không phải là xa lạ. Song việc qui định quá cụ thể về các vâh đề lớn mà có thê’ được quyết định vói tỷ lệ đó là hiếm thâỳ. Đạo luật Công ty 2006 của Nhật Bản có định ra một qui tắc trừu tượng hon như sau: "Trong trường hợp công ty có hai hoặc nhiều thành viên (partners), thì hoạt động kinh doanh của công ty thành viên (the Membership Company) được quyết định bởi đa số các thành viên, trừ khi điều lệ công ty có qui định khác" (Điều 590, khoản 2). Ở đây cần lưu ý rằng đạo luật này của Nhật Bản xếp công ty hợp danh, công ty hợp vốn đơn giản và công ty trách nhiệm hữu hạn vào một loại được gọi là "công ty thành viên" khác vói công ty cổ phần (công ty đôì vân). Tuy nhiên để bảo đảm không đi quá xa khỏi nền tảng pháp lý của công ty hợp danh, nhiều đạo luật qui định dứt khoát về các vâh đề mà các thành viên của công ty hợp danh phải quyết định theo nguyên tắc nhất. trí. Ngoài ra, họ có thể quyết định theo nguyên tắc đa số. Các vâ'n đê' phải quyết định theo nguyên tắc nhất trí thông thường bao gổm: Sửa đổi điều lệ công ty; thay đổi cơ câu vốn, tăng, giảm vốn; chuyển nhượng quyêh lợi của thành viên công ty cho người khác...
Người quản lý công ty hợp danh có thể là một pháp nhân bởi pháp nhân có thể là thành viên công ty hợp danh. Thê'nhưng Luật Doanh nghiệp 2020 không để cập tới việc thành viên công ty hợp danh là pháp nhân. Đạo luật Công ty 2006 của. Nhật Bản qui định trường hợp pháp nhân là người quản lý hay tiến hành các công việc kinh doanh của công ty hợp danh thì pháp nhân đó phải chỉ định một người thực hiện nhiệm vụ của thành viên quản lý công ty và thông báo cho tất cả các thành viên khác biết tên và địa chỉ của người đó. Luật Doanh nghiệp 2020 không qui định trường hợp người quản lý công ty hợp danh không phải là thành viên hợp danh. Điều này gây khó khăn cho việc công ty hợp danh ủy quyền cho người không phải là thành viên công ty hợp danh làm người quản lý công ty. Nhìn chung pháp luật của các nước đều qui định người quản lý công ty có nghĩa vụ cẩn trọng, trung thành và hành động vì lợi ích cao nhất của công ty. Việc quản lý công ty hợp danh có thể được giao cho nhiều người. Nêù không có sự phân công công việc rành mạch bởi điều lệ hay hợp đổng thành lập công ty cho mỗi người quản lý, thì họ phải chịu trách nhiệm liên đới về việc gây thiệt hại cho công ty.
Luật Doanh nghiệp 2020 qui định mỗi thành viên của công ty hợp danh đều có quyền đại diện theo pháp luật của công ty và điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty. Các thành viên phân công nhau đảm nhận chức danh quản lý và kiểm soát. Các hạn chế đôì với thành viên công ty hợp danh trong việc thực hiện công việc kinh doanh hàng ngày của công ty chỉ có hiệu lực đối vói người thứ ba khi người đó biết được hạn chế đó. Với các qui định như trên, Luật Doanh nghiệp 2020 ân định Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của công ty hợp danh chỉ có vai trò là người điều phối các hoạt động kinh doanh của các thành viên công ty, và đại diện cho công ty trong môì quan hệ với các cơ quan nhà nước và trong các vụ kiện, ngoài ra có vai trò trong việc triệu tập họp hội đồng thành viên, ký quyết định về qui chế, lưu giữ sổ sách kế toán, chứng từ.
Mỗi thành viên công ty hợp danh theo nguyên lý đều có quyền góp ý và kiểm soát việc quản lý công ty. Người quản lý công ty được hưởng thù lao từ việc thực hiện chức năng của người quản lý. Thông thường khoản thù lao này được ân định rõ trong điều lệ công ty hay trong một nghị quyết được thông qua bởi các thành viên công ty.
Việc chia lãi cho các thành viên công ty được qui định trong điều lệ công ty. Nếu không có qui định như vậy, thì chia lãi theo qui định của pháp luật theo nguyên tắc khoản lãi được chia tương ứng vói tỷ lệ phần lợi của mỗi thành viên trong công ty.
3. Giải thể công ty hợp danh
Việc giải thê’ công ty hợp danh có một số qui tắc đặc thù. về nguyên lý, công ty hợp danh, bởi là một công ty đối nhân, có lý do giải thể đặc biệt khi một thành viên chết hoặc bị mâ't năng lực hoặc bị tuyên bô' phá sản. Tuy nhiên, nêù điều lệ có qui định khác thì công ty có thể vượt qua được các trường hợp đó.
Công ty có thê’ bị giải thê’ do có yêu cẩu của một thành viên của công ty. Ở đây cần phân biệt hai trường họp: Thứ nhất là công ty được thành lập ra cho một thời hạn nhất định; và thứ hai là công ty được thành lập mà không có thời hạn châm dứt. Đối vói trường hợp thứ nhất, bất kỳ thành viên nào, nếu có lý do họp lý, đều có quyền yêu cẩu tòa án giải thể công ty. Việc này có phần giống trường họp giải hiệu của một hợp đồng. Toàn thê’ thành viên cũng có thê’ châ'p thuận việc giải thê’ công ty theo thê’ thức do điều lệ công ty qui định hoặc theo thê’ thức do luật định. Đôì với trường họp thứ hai, bâ't kỳ thành viên nào của công ty cũng có quyền yêu cầu giải thể công ty khi có lý do chính đáng.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật Doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê