1. Tổ chức đảng được hiểu như thế nào?
Quy định 69-QĐ/TW mới không có quy định về tổ chức Đảng tuy nhiên Quy định số 07-QĐI/TW ngày 28/8/2018 (đã hết hiệu lực) của Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã chính thức hết hiệu lực có quy định về Tổ chức đảng: Là tổ chức do đại hội bầu, do cấp ủy có thẩm quyền bầu hoặc chỉ định thành lập, hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách và quyết định theo đa số; đồng thời thực hiện các nguyên tắc: Tự phê bình và phê bình, đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Như vậy, quy định số 07-QĐI/TW nêu rõ về Tổ chức đảng, đặt ra các nguyên tắc cơ bản mà mọi tổ chức đảng cần tuân thủ. Tổ chức đảng được mô tả như là một tổ chức do đại hội bầu, hoặc do cấp ủy có thẩm quyền bầu hoặc chỉ định thành lập.
Quy định cũng đặt ra nguyên tắc quyết định theo đa số, thể hiện tinh thần dân chủ trong quyết định của đảng. Điều này làm tăng tính hiệu quả và tính chủ động của tổ chức đảng trong quá trình đưa ra các quyết định quan trọng.
Một điểm quan trọng trong quy định này là việc tổ chức đảng cần thực hiện tự phê bình và phê bình, đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng. Điều này chú trọng đến việc tự quản lý và tự kiểm soát bản thân, từ đó đảm bảo sự đồng đều và đồng thuận trong nội bộ đảng. Sự đoàn kết được xây dựng trên cơ sở lý tưởng chính trị và quy định của Đảng, giúp tăng cường sức mạnh và sự đồng lòng của đảng viên.
Gắn bó mật thiết với nhân dân là một nguyên tắc quan trọng, nhấn mạnh vào sự liên kết chặt chẽ giữa đảng và nhân dân. Điều này thể hiện cam kết của đảng đối với sự phục vụ nhân dân và xây dựng đất nước. Việc đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật là cam kết đảm bảo rằng các hoạt động của đảng sẽ luôn tuân thủ theo quy định của pháp luật, từ đó bảo đảm tính hợp pháp và bền vững của mọi quyết định và hành động.
2. Đối tượng nào có quyền thành lập tổ chức Đảng?
Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định 98/2014/NĐ-CP, các loại doanh nghiệp như công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân, bao gồm cả công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần được chuyển đổi từ doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, doanh nghiệp của tổ chức Đảng và của các tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp có vốn đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài đều là đối tượng áp dụng.
Cụ thể, Điều 2 của nghị định nêu rõ rằng doanh nghiệp thuộc các loại trên được gọi chung là doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Điều này đồng nghĩa với việc không chỉ các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước mà còn bao gồm các tổ chức Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội. Điều này mở đường cho việc thành lập tổ chức Đảng trong khuôn khổ của các doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn một thành viên.
Vì vậy, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoàn toàn có thể được thành lập tổ chức Đảng nếu đáp ứng các điều kiện quy định. Tuy nhiên, để đảm bảo tính hợp pháp và tuân thủ pháp luật, công ty cần kiểm tra và đảm bảo rằng mọi hành động và hoạt động của tổ chức Đảng đều tuân theo quy định của Nghị định và các quy định khác liên quan.
Quy định trên mở rộng phạm vi thành lập tổ chức Đảng cho nhiều loại doanh nghiệp, bao gồm cả công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, nhằm tạo điều kiện cho sự đa dạng và phong phú trong cơ cấu tổ chức Đảng, đồng thời thể hiện cam kết của Chính phủ đối với sự đa nguyên tắc trong lĩnh vực kinh tế.
Như vậy, theo quy định trên thì công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên được thành lập tổ chức Đảng nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định.
3. Công ty TNHH một thành viên được thành lập tổ chức Đảng khi nào?
Theo quy định tại Điều 4 Nghị định 98/2014/NĐ-CP, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cần có ít nhất 3 người lao động là đảng viên chính thức để đủ điều kiện thành lập tổ chức Đảng theo quy định của Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều này thể hiện sự chú trọng của Đảng đối với quá trình xây dựng tổ chức Đảng trong doanh nghiệp, nhằm đảm bảo tính đồng đều và đồng thuận trong hoạt động đảng viên.
Trước hết, quy định này tập trung vào việc rà soát và chuyển động đảng viên từ các đơn vị khác về tổ chức Đảng của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp đã có tổ chức Đảng, tổ chức Đảng tại doanh nghiệp sẽ rà soát và đề xuất chuyển động đảng viên từ các nơi khác về tham gia sinh hoạt đảng tại doanh nghiệp. Điều này nhấn mạnh sự liên kết và tương tác giữa các tổ chức Đảng trong hệ thống, tạo cơ hội cho đảng viên tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp mà họ làm việc.
Đối với doanh nghiệp chưa có tổ chức Đảng, quy định yêu cầu cấp ủy đảng cấp trên cơ sở nơi doanh nghiệp hoạt động phối hợp với doanh nghiệp để rà soát và chuyển động đảng viên từ nơi khác về để thành lập tổ chức Đảng. Điều này đồng nghĩa với việc cần có sự hỗ trợ và sự liên kết chặt chẽ giữa các đơn vị Đảng và doanh nghiệp trong quá trình xây dựng tổ chức Đảng mới.
Trong trường hợp doanh nghiệp chỉ có 1 hoặc 2 người lao động là đảng viên chính thức, cấp ủy đảng cấp trên cơ sở chuyển số lao động là đảng viên đó về tổ chức Đảng cấp trên cơ sở. Đồng thời, có quy định về việc lập chi bộ ghép hoặc phân công đảng viên từ tổ chức Đảng cấp trên cơ sở về sinh hoạt và lập tổ chức Đảng tại doanh nghiệp. Điều này thể hiện sự linh hoạt và sáng tạo trong quá trình xây dựng tổ chức Đảng, đồng thời tạo điều kiện cho sự phát triển đảng viên và sinh hoạt đảng tại cấp cơ sở.
Với doanh nghiệp chưa có người lao động là đảng viên, quy định đặt ra trách nhiệm cho cấp ủy đảng cấp trên cơ sở chỉ đạo và phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội trong doanh nghiệp để phát hiện, bồi dưỡng, và kết nạp đảng viên. Quá trình này không chỉ là một quá trình tạo nguồn lực đảng viên mà còn là cơ hội để doanh nghiệp có những nhân sự ưu tú, đồng thời đóng góp vào sự đa dạng và tính chất đại diện của tổ chức Đảng.
Quy định về số lượng người lao động là đảng viên chính thức cần thiết để thành lập tổ chức Đảng trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là một bước quan trọng, nhấn mạnh vào sự đồng thuận và tính đồng đều trong hoạt động của tổ chức Đảng, đồng thời khuyến khích sự tương tác và hỗ trợ giữa các cấp Đảng và doanh nghiệp
Như vậy, theo quy định trên thì công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên phải có 03 người lao động là đảng viên chính thức trở lên đủ điều kiện thành lập tổ chức Đảng theo quy định của Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam.
4. Trách nhiệm của công ty TNHH một thành viên trong quản lý tổ chức Đảng
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, khi quyết định thành lập tổ chức Đảng, chịu trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức Đảng cấp trên tại địa phương nơi công ty đóng trụ sở chính. Điều này đồng nghĩa với việc công ty cam kết thực hiện các nhiệm vụ và trách nhiệm nhất định để đảm bảo hoạt động của tổ chức Đảng diễn ra một cách hiệu quả và phù hợp với quy định của pháp luật.
Trong quá trình thành lập tổ chức Đảng, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có trách nhiệm tôn trọng và tạo điều kiện cho quyền thành lập tổ chức Đảng của người lao động tại doanh nghiệp, theo đúng quy định của pháp luật và Điều lệ của tổ chức Đảng đó. Sự tôn trọng và hỗ trợ này nhằm đảm bảo tính tự nguyện và minh bạch trong quá trình xây dựng và phát triển tổ chức Đảng, giúp người lao động tham gia vào hoạt động Đảng một cách tích cực và ý thức.
Ngoài ra, công ty còn phải phối hợp và tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức Đảng cấp trên tuyên truyền, phổ biến và hướng dẫn người lao động tham gia thành lập tổ chức Đảng. Hành động này đặt ra sự cần thiết của việc thông tin đầy đủ và rõ ràng, giúp người lao động hiểu rõ về ý nghĩa và mục tiêu của tổ chức Đảng, từ đó khuyến khích sự tích cực và chủ động tham gia vào hoạt động Đảng.
Hơn nữa, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cần tạo điều kiện thuận lợi và phối hợp chặt chẽ với tổ chức Đảng đã được thành lập tại doanh nghiệp để giải quyết kịp thời những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động. Điều này nhằm đảm bảo sự công bằng và minh bạch trong quản lý và giải quyết các vấn đề phức tạp, từ đó giữ vững sự đồng thuận và ổn định trong cộng đồng lao động.
Như vậy, trách nhiệm của công ty trong quá trình thành lập tổ chức Đảng bao gồm sự tôn trọng, hỗ trợ và phối hợp chặt chẽ với cơ quan quản lý và tổ chức Đảng cấp trên, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi và thông tin đầy đủ cho người lao động. Điều này góp phần tạo nên một môi trường lao động tích cực và đầy đủ hỗ trợ cho hoạt động của tổ chức Đảng trong doanh nghiệp.
Bài viết liên quan: Những vấn đề pháp lý liên quan đến công ty TNHH một thành viên
Nội dung trên đây chỉ mang tính chất tham khảo. Trường hợp nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.
Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn quý khách hàng!