1. Của hồi môn có bị đem chia khi ly hôn hay không ?

Xin chào công ty Luật Minh Khuê, tôi có một số thắc mắc cần nhờ công ty tư vấn giúp như sau: tôi kết hôn được 06 năm, đến bây giờ vợ chồng có nhiều mâu thuẫn không còn tình cảm với nhau như trước đây nữa nên chúng tôi muốn ly hôn. Chúng tôi có 1 đứa con và tài sản chung thì chúng tôi có 1 căn nhà, tuy nhiên các luật sư cho tôi hỏi là của hồi môn bố mẹ cho tôi khi lấy chồng thì có bị đem ra chia khi ly hôn hay không? Và nếu bị đem chia thì sẽ chia như thế nào vì đây là tài sản của riêng bố mẹ tôi cho tôi ?
Cảm ơn luật sư và mong nhận được sự tư vấn!

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Về vấn đề của bạn thì theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã xác định tài sản chung của vợ chồng như sau:

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Như vậy, căn cứ theo quy định trên, tài sản chung của vợ chồng là tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân mà theo quy định của pháp luật hiện nay thì hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn và việc kết hôn chỉ được công nhận nếu thỏa mãn cả về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch trong trường hợp việc kết hôn không được đăng ký theo quy định thì sẽ không có giá trị pháp lý.

Theo như thông tin bạn cung cấp thì khi kết hôn, bạn có được bố mẹ mình cho một số tài sản gọi là của hồi môn. Việc xác định số tài sản này có phải là tài sản chung hay không cần phải dựa vào thời điểm bạn được cho số tài sản này thì bạn và chồng đã đăng ký kết hôn hay chưa, nếu chưa có đăng ký kết hôn thì đây sẽ được coi là tài sản riêng của bạn còn nếu thời điểm đó 2 bạn đã đăng ký kết hôn thì nó chỉ được coi là tài sản riêng nếu bố mẹ bạn có thể hiện rõ ý chí là tặng cho riêng bạn số tài sản đó.

- Trong trường hợp của hồi môn là tài sản riêng thì khi vợ chồng bạn ly hôn, số tài sản này sẽ không bị đem ra chia theo quy định của pháp luật.

- Trong trường hợp của hồi môn là tài sản chung do được tặng cho chung (khi cho bố mẹ có nói là tặng cho hai vợ chồng) hoặc trong quá trình chung sống, hai vợ chồng bạn có thỏa thuận số của hồi môn này là tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 46 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung, cụ thể như sau:

1. Việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng.

2. Tài sản được nhập vào tài sản chung mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì thỏa thuận phải bảo đảm hình thức đó.

3. Nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung được thực hiện bằng tài sản chung, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Đối với trường hợp này thì số tài sản này sẽ bị chia đôi theo quy định tại khoản 2 điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tuy nhiên việc chia tài sản này có tính đến các yếu tố sau:

- Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

- Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

- Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

- Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Quy định về giành quyền nuôi cả 2 con khi ly hôn ?

Xin chào Luật Minh Khuê ! Vợ chồng tôi đang trong thời gian chờ ly hôn. Và có 2 con cháu lớn gần 7 tuổi, cháu thứ 2 gần 3 tuổi. Vợ chồng tôi có thỏa thuận tôi nuôi đứa lớn và chồng tôi nuôi đứa bé. Giờ vợ chồng tôi thỏa thuận như vậy, liệu khi ra tòa thì tòa có giải quyết cho tôi nuôi 2 đứa không ?
Cảm ơn!

Trả lời:

Về việc giành quyền nuôi con khi ly hôn được quy định trong điều 81, Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Như vậy khi ly hôn vợ chồng sẽ thỏa thuận về quyền nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con. Trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ giao cho một bên trực tiếp nuôi. Vậy muốn giành quyền nuôi cả 2 con, cháu gần 3 tuổi pháp luật sẽ ưu tiên cho chị nuôi, cháu 7 tuổi chị phải chứng minh mình có điều kiện nuôi con hơn chồng của chị. Khi xem xét ai sẽ là người có quyền nuôi con, Tòa án sẽ căn cứ vào nhiều yếu tố khác nhau với mục đích tìm được người có thể đáp ứng tối đa yêu cầu cho sự phát triển của đứa trẻ. Những điều kiện cần chứng minh là về vật chất và tinh thần cụ thể như sau:

Điều kiện về vật chất (kinh tế):

Chị phải chứng minh được mình có đầy đủ các điều kiện về vật chất như: Thu nhập thực tế, thu nhập hàng tháng, chị phải chứng minh được thu nhập hàng tháng của chị có thể đáp ứng được nhu cầu tài chính cho con phát triển tốt hơn. Công việc ổn định dựa trên hợp đồng lao động của chị và thang bảng lương. Có chỗ ở ổn định (nhà ở hợp pháp) chị sẽ chứng minh nơi ở ổn định thông qua hợp đồng thuê nhà hoặc giấy tờ chứng minh về quyền sở hữu nhà ở.... và các vấn đề khác.

Theo đó chị phải có điều kiện về tài chính hơn so với chồng, mức thu nhập, nơi cư trú của bạn phải đủ để đảm bảo điều kiện về nuôi dưỡng, học tập và vui chơi cho cháu bé. Để chứng minh được vấn đề này chị cần cung cấp cho Toà án những giấy tờ như: hợp đồng lao động, bảng lương, giấy tờ chứng minh về quyền sở hữu đất, sở hữu nhà (sổ đỏ),...

- Điều kiện về tinh thần:

Các điều kiện về tinh thần bao gồm: thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con, chị có đi làm và có thể dành cho con nhiều thời gian để quan tâm chăm sóc con cái. Tình cảm dành cho con từ trước đến nay, điều kiện cho con vui chơi, giải trí nếu chị chứng minh được môi trường sống của con khi ở cùng chị sẽ tốt hơn khi ở với chồng. Nhân cách đạo đức của cha mẹ, chị có thể chứng minh rằng hoạt động hằng ngày, lối sống lành mạnh có ảnh hưởng tới sự phát triển của con tốt hơn so với chồng thì chị sẽ có được lợi thế giành quyền nuôi con

Như vậy để giành quyền nuôi con chị phải chứng minh được các điều kiện mọi mặt mà chị giành được cho con.

Bên cạnh đó, Điều 82 có quy định về nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Theo đó:

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp chị nuôi cả 2 cháu, anh chồng không trực tiếp nuôi sẽ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng hoặc hàng quý. Hiện nay pháp luật không quy định mức cấp dưỡng cụ thể, Tòa án sẽ căn cứ vào tình hình thực tế để đưa ra mức cấp dưỡng hợp lý.

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Giải quyết vụ việc ly hôn khi vợ chồng không cùng quốc tịch ?

Chào luật sư tôi có 1 tình huống muốn được luật sư tư vấn: Năm 2010, Ông David (quốc tịch Anh) kết hôn với bà Julie (quốc tịch Mỹ) tại Mỹ. Sau đó, hai vợ chồng cùng sang Việt Nam sinh sống và làm việc từ năm 2012. Tuy nhiên, một thời gian sau, họ phát sinh mâu thuẫn và nộp đơn yêu cầu Tòa án Việt Nam giải quyết ly hôn.
1. Vấn đề pháp lý nào có thể làm phát sinh khi Tòa án Việt Nam giải quyết vụ việc ly hôn trên ?

2. Có người nói rằng: “Tòa án Việt Nam không có thẩm quyền giải quyết vụ việc ly hôn nếu cả hai bên đương sự là người nước ngoài”. Vậy tình huống này cần giải quyết ra sao?

3. Và nếu 2 vợ chồng này đã đồng ý với nhau là chọn pháp luật Anh là pháp luật giải quyết tình huống của mình thì liệu rằng Tòa án Việt Nam có thể áp dụng pháp luật Anh là pháp luật do các bên lựa chọn để giải quyết vụ việc ly hôn trên không?

Xin chân thành cảm ơn!

Tên khách hàng: NHA

Trả lời:

3.1. Các vấn đề pháp lý có thể phát sinh:

Vì đây là vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài vì thế, ngoài các vấn đề pháp lý có thể phát sinh mẫu thuẫn như: tranh chấp về chia tài sản, quyền nuôi con,...còn có các vấn đề pháp lý khác đặc trưng như:

- Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết vụ việc

- Luật áp dụng trong trường hợp này là luật của quốc gia nào.

- Vấn đề công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của tòa án nước ngoài.

3.2. ý kiến trên là chưa chính xác bởi lẽ:

Theo quy định tại điểm a, điểm c khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 Toà án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong các trường hợp sau đây:

"a) Bị đơn là công dân nước ngoài, người không quốc tịch cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam ;

c) Bị đơn có tài sản trên lãnh thổ Việt Nam;"

Như vậy, có thể thấy, nếu ông David hoặc bà Julie là bị đơn trong vụ việc yêu cầu giải quyết ly hôn mà cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam hoặc có tài sản trên lãnh thổ Việt Nam thì Tòa án Việt Nam hoàn toàn có thẩm quyền giải quyết vụ việc này sau khi nhận được yêu cầu giải quyết của nguyên đơn.

3.3. Về vấn đề luật áp dụng trong vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài sẽ được giải quyết như sau:

Theo quy định tại điều 122 Luật hôn nhân và gia đình 2014:

"Điều 122. Áp dụng pháp luật đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
1. Các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp Luật này có quy định khác.
Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.
2. Trong trường hợp Luật này, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam có dẫn chiếu về việc áp dụng pháp luật nước ngoài thì pháp luật nước ngoài được áp dụng, nếu việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản được quy định tại Điều 2 của Luật này.
Trong trường hợp pháp luật nước ngoài dẫn chiếu trở lại pháp luật Việt Nam thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam.
3. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có dẫn chiếu về việc áp dụng pháp luật nước ngoài thì pháp luật nước ngoài được áp dụng."
Đồng thời tại Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình 2014 ghi nhận:

"Điều 127. Ly hôn có yếu tố nước ngoài

1. Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này.

2. Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam.

3. Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó."

Như vậy, căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, pháp luật được áp dụng có thể là pháp luật Việt Nam hoặc pháp luật của nước nơi có bất động sản hoặc pháp luật của quốc gia khác đã được Việt Nam chấp nhận trong các điều ước quốc tế. Trong việc giải quyết vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài, các bên không được thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng. Do đó, các bên không có quyền lựa chọn pháp luật Anh. Việc chọn luật của quốc gia nào là phụ thuộc vào quy định của pháp luật Việt Nam như đã nêu trên.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi với yêu cầu của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

4. Thủ tục ly hôn khi người vợ đang mang thai như thế nào ?

Xin chào luật sư, Tôi năm nay 29 tuổi kết hôn năm 2010 có 1 con gái 3 tuổi và hiện tôi đang mang thai cháu thứ 2 được 7 tháng. Nhưng gia đình tôi thường xuyên mâu thuẫn. Hiện tại tôi muốn ly hôn có được không? Thủ tục như thế nào để giải quyết nhanh nhất mà không vướng mắc vào những thủ tục hòa giải? Tuy thu nhập của tôi không cao nhưng tôi muốn được nuôi con thì có được không?
Cảm ơn luật sư!

Luật sư tư vấn:

Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 :

Điều 54. Hòa giải tại Tòa án

Sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

4.1. Về vấn đề ly hôn

Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định:

"1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi."

Do đó, bạn có thể làm đơn xin ly hôn thuận tình hoặc đơn xin ly hôn đơn phương yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn.

. Hồ sơ xin ly hôn bao gồm:

- Đơn xin ly hôn;

- Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;

- Bản sao Hộ khẩu thường trú, tạm trú của vợ và chồng

- Bản sao Chứng minh thư nhân dân hoặc bản sao hộ chiếu của vợ và chồng

- Các giấy tờ chứng minh về tài sản: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở (nếu có)…

- Bản sao giấy khai sinh của con.

- Thẩm quyền giải quyết của Tòa án như sau:

Trong trường hợp của bạn, vì bạn không nói rõ là hai bạn thuận tình ly hôn hay đơn phương ly hôn nên chúng tôi chia làm 2 trường hợp :

- Trường hợp 1: hai vợ chồng thuận tình ly hôn

Theo điều 35, khoản 2, điểm h Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi năm 2011 thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết sẽ là Tòa án nhân dân cấp huyện:

"h) Toà án nơi một trong các bên thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn;"

Theo điều 12, Luật cư trú 2006 sửa đổi bổ sung 2013 thì nơi cư trú của công dân được xác định là "chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú." Như vậy, bạn hoàn toàn có quyền nộp đơn tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bạn tạm trú, làm việc để yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Trường hợp 2 : hai vợ chồng đơn phương ly hôn

Trong trường hợp này, thẩm quyền của Tòa án được xác định theo khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi bổ sung 2011. Cụ thể Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nhân dân cấp huyện nơi mà:

"a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 25,27,29, 31 của Bộ luật này;

c) Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp về bất động sản".

Như vậy, Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc ly hôn của bạn là nơi chồng bạn cư trú, làm việc.

4.2. Về vấn đề nuôi con

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Như vậy, thì con gái cả bạn mới 3 tuổi và một con đang mang thai được 7 tháng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình thì nếu bạn không có thỏa thuận với chồng về vấn đề nuôi con và bạn có đủ điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con thì bạn sẽ được Tòa án giao cho quyền nuôi con.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Vợ muốn ly hôn và giành quyền nuôi con ?

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

5. Ly hôn khi vợ không đồng ý ký đơn như thế nào?

Chào luật sư, xin hỏi: Tôi có câu hỏi về thủ tục ly hôn xin nhờ luật sư tư vấn. Em tôi quê Nam Định đi vào Lâm Đồng rồi lấy vợ tại Lâm Đồng. Sau khi kết hôn ở Lâm Đồng em tôi có cắt khẩu tại Nam Định để nhập vào gia đình nhà vợ ở Lâm Đồng. Sau 4 năm chung sống hai vợ chồng em tôi đã có 1 cháu được 3 tuổi. Tuy nhiên cách đây 1 năm, khi có xung đột gia đình xảy ra nên em tôi đã về quê Nam Định để sống cùng bố mẹ. Vợ của em tôi cũng về nhà tôi sống 1 thời gian, rồi bỏ vào trong lâm đồng mang theo cả cháu bé. Gia đình tôi đã rất nhiều lần gọi cô ấy về để đoàn tụ gia đình nhưng cô ấy không về. Em tôi cũng đã gọi về, và nói nếu không về thì cắt khẩu em tôi ra để làm thủ tục ly hôn. Tất nhiên cô ấy không đồng ý, và nói nhất định không ly hôn, và cũng không trở về (cô ấy đã về Lâm Đồng 2 năm, cũng không có động thái nào là muốn về cả) với những yếu tố trên tôi xin nhờ luật sư tư vấn.

1. Có thể đơn phương ly hôn được không khi khẩu của em tôi đang ở nhà vợ. Và cần những thủ tục như thế nào để có thể ly hôn được.

2. Cháu nhỏ 3 tuổi gia đình tôi có thể giành quyền nuôi cháu không. Vì mẹ cháu (vợ của em tôi) cô ấy đã từng lấy chồng, cũng đang nuôi 1 con riêng của người chồng trước ?

Tôi xin cám ơn luật sư.

Trả lời

Thứ nhất, về vấn đề đơn phương ly hôn.

Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau:

"1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Như vậy, không nhất thiết phải có chữ ký của vợ, em trai bạn vẫn có thể đơn phương ly hôn. Để tiến hành đơn phương ly hôn em trai bạn cần có căn cứ về việc người vợ vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Cụ thể với trường hợp của em trai bạn là người vợ đã vi phạm nghĩa vụ sống chung với nhau theo khoản 2 Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

"2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác."

Khi có những căn cứ như đã nêu ở trên, em trai bạn có thể hoàn thiện hồ sơ khởi kiện xin ly hôn đến Tòa án nhân dân quận/huyện nơi người vợ cư trú để được giải quyết.

Hồ sơ khởi kiện xin ly hôn gồm có:

+ Đơn xin ly hôn;

+ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn bản chính;

+ Sổ hộ khẩu ( nếu sổ hộ khẩu người vợ giữ thì người chồng có thể đến phía công an xã, phường xin xác nhận nơi cư trú)

+ Căn cước công dân ( Bản sao có chứng thực)

+ Giấy khai sinh của con ( Bản sao)

+ Các tài liệu, chứng cứ chứng minh tài sản chung như : Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Đăng ký xe, .... ( Bản sao)

Thứ hai, về việc giành quyền nuôi con của người cha khi ly hôn

Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn như sau:

"1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Như thông tin bạn cung cấp rằng cháu bé được 3 tuổi nên khi ly hôn bố và mẹ của bé có quyền ngang nhau để giành quyền nuôi con. Tòa án sẽ căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con để quyết định ai là người được quyền nuôi con. Các mặt để xem xét để dành quyền nuôi con là: mức thu nhập, thời gian chăm sóc con, nhân phẩm của cha mẹ,...

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Hướng dẫn viết đơn xin ly hôn như thế nào ? Giải quyết tranh chấp tài sản sau ly hôn ?