1. Cá nhân John Maynard Keynes

John Maynard Keynes sinh năm 1883, mười năm sau khi nhà kinh tế học John Stuart Mill mất, bảy năm trước khi nhà kinh tế học người Anh - Alfred Marshall xuất bản tác phẩm Principles of Economics - là một trong những cuốn sách giáo khoa kinh tế có tầm ảnh hưởng nhất ở Anh trong nhiều năm. Cuốn sách đã đưa các ý tưởng về cung và cầu, độ thỏa dụng biên và chi phí sản xuất thành một khối tổng thể. John Maynard Keynes mất năm 1946. Nếu tính di truyền có ảnh hưởng quan trọng đến trí tuệ con người thì John Maynard Keynes chắc hẳn cũng may mắn như nhà kinh tế học John Stuart Mill. Bởi vì, bố ông là John Neville và mẹ là Florence Ada, họ đều là trí thức. Bố của Maynard là một nhà logic nổi tiếng và cũng là tác giả về phương pháp luận kinh tế. Tác phẩm quan trọng nhất của John Neville Keynes là The Scope and Method of Political Economy, xuất bản năm 1890. Từ bố, John Maynard thừa hưởng tính hiếu kỳ tìm hiểu mọi vấn đề và tình yêu suốt đời dành cho nghệ thuật, nhất là kịch nghệ, ông luôn hết lòng đối với bố, người sống lâu hơn ông (J N. Keynes mất năm 1949).

 

2. Giáo dục

John Maynard Keynes học ở Eton, với tất cả những gì mà nền giáo dục này hàm dưỡng. John Maynard Keynes luôn miệt mài hết văn học cổ Điển đến logic, toán học, kịch nghệ (một thời ông từng diễn vai Hamlet) và trong những trò tinh nghịch của đời học sinh. Hoạt động tri thức cuồng tín này được tiến hành trong quãng đời của ông ở trường Cao đẳng King, trường Cambridge, Keynes mô tả tiến bộ của ông trong lá thư (đề ngày 13/11/1902) gửi bạn thân của ông B. w. Swithenbank:

“Ngay sau khi rời khỏi hội trường mình chạy ngay đến một Hiệp hội Chúa ba ngôi nghe được một bài trào phúng đáng giá nhất về giáo lý Cơ Đốc. Sau đó mình lại gần nhóm đang tranh luận triết lý không chính thức gồm nhiều người đang quan tâm khiến mình lại đó gần 12 giờ, kế đến mình đến thăm Monty James nán lại đây đến 1 giờ, ở đây mình lại gặp một người khác nói chuyện cho đến 4 giờ rưỡi. Lúc bảy giờ rưỡi, mình thức giấc rồi đọc Bài giảng về Nhà nguyện. Buổi sáng ấy mình làm việc bốn tiếng, chèo thuyền gần nửa buổi chiều. Tối đến mình đến thăm nghe bài giảng về thầy tu dòng Tên trong tư cách một vị khách của Tổ chức chính trị...” (trích trong The Life Of John Maynard Keynes của Harrod, trang 68).

Thế là trong toàn bộ sự nghiệp của ông, đầu tiên trong tư cách một sinh viên và sau đó là tác giả, viên chức chính phủ, thành viên ban giám hiệu trường Cao đẳng King.

 

3. Bạn bè

Xung quanh John Maynard Keynes luôn là những người có cùng trí hướng. Tình bạn đối với ông rất quan trọng, trong tư cách là một thành viên thuộc nhóm Bloomsbury (tên gọi một vùng ở London), ông luôn giữ mối quan hệ thân tình và lý thú với những trí thức hàng đầu của Anh. Ngoài John Maynard Keynes, nhóm Bloomsbury lúc đầu còn có Leonard và Virginia Woolf, Duncan Grant, Clive và Vanessa (chị của Virginia) Bell, E. M. Forster và có lẽ thành viên quan trọng nhất nhóm là bạn thân của John Maynard Keynes, Lytton Strachey. Không theo khuôn phép xã hội, phản đối Victor, nhóm Bloomsbury nghiên cứu về mọi vấn đề (triết học, quy ước xã hội, nghệ thuật, văn học và âm nhạc) với tính tình ngay thẳng và niềm tin chắc chắn vào tính vượt trội của tri thức của riêng họ. John Maynard Keynes rõ ràng đóng góp và thu hút sự nuôi dưỡng văn hóa từ nhóm, mặc dù quan tâm và thành tựu chính của ông là xuất phát từ những yếu tố này trong nhóm Bloomsbury.

Không chỉ bạn bề, Các nhà kinh tế học luôn luôn quan tâm đến John Maynard Keynes. Năm 1905, nhà kinh tế học Alfred Marshall viết thư cho học trò của mình là J. N. Keynes: “Em đang làm một công việc xuất sắc trong Kinh tế học. Thầy bảo với em rằng thầy vô cùng hân hoan nếu như em quyết định trở thành nhà kinh tế chuyên nghiệp. Nhưng dĩ nhiên điều này thầy không ép buộc”. Alfred Marshall có lẽ không nhận thấy nhất thiết phải ép buộc John Maynard Keynes, vì quan tâm của John Maynard Keynes phát triển đều đặn, tự nhiên và hơn nữa ông nhận thức điều này.

 

4. Sự nghiệp

Sự sớm phát triển và dải rộng các hoạt động của John Maynard Keynes được mang sang toàn bộ sự nghiệp nổi bật của ông, vào năm 1906 dẫn ông đến ngành dân chính cũng như kinh tế học. Trong cùng năm, John Maynard Keynes đậu kỳ thi tuyển dụng công chức, được bổ nhiệm vào một bộ ở Ấn Độ. Ít lâu sau, chán nản với công việc hành chánh, Keynes dành phần lớn thời gian của mình để nghiên cứu lý thuyết xác suất, kết quả là ông được nhiều người ca ngợi (Bertrand Russell và những người khác) Treatise on Probability (1921).

Năm 1911 John Maynard Keynes cùng F. Y. Edgeworth đồng làm chủ bút tờ Economic Journal, cơ quan chính thức của Hiệp hội kinh tế hoàng gia. Ông giữ vị trí này cho đến năm 1945. Năm 1913, ông xuất bản một tác phẩm về tài chính quốc tế liên quan đến chế độ bản vị hối đoái vàng, tác phẩm Indian Currency and Finance. Nổi tiếng nhanh chóng như một chuyên gia tiền tệ, Keynes vào làm ở Bộ Ngân khố năm 1915 cho đến khi chiến tranh kết thúc. Ông đại diện cho Bộ Ngân khố Anh tham dự hội nghị Versailles. Ông tiên đoán về sự phục hồi kinh tế châu Âu và rút khỏi hòa ước. Năm 1919, Keynes công kích điều khoản hòa ước (và chính sách của Lloyd George) trong tác phẩm The Economic Consequences of the Peace, rất thành công, như thể thúc giục sự điều tiết trước yêu cầu đánh bại Đức (2).

Trong những năm 1920, Keynes dạy học ở trường Cao đẳng King. Mặc dù ông là một diễn giả sôi nổi, thành công nhưng ít lâu sau ông giảm bớt số tiết dạy để tham gia vô số hoạt động khác, trong đó có cả việc tích lũy tài sản (khoảng nửa triệu bảng Anh năm 1937) bằng cách đầu cơ ngoại hối (Keynes không muốn lệ thuộc vào đồng lương công chức), trở thành chủ tịch Hội đồng tuần san Nation, theo quan điểm tự do và đảm nhận nhiệm vụ một bursar (phân tích và quản lý tài chính) ở Cao đẳng King, với mức lương khởi điểm 100 bảng Anh.

 

5. Hoạt động sáng tác

Năm 1923, John Maynard Keynes xuất bản quyển Tract on Monetary Reform, vốn là cuộc bút chiến ủng hộ sự quản lý nhiệm ý lượng cung tiền mặt và phản đối kim bản vị như một yếu tố quyết định thất thường kinh tế nội bộ. Năm 1925, Keynes kết hôn với Lydia Lopokova, một nữ diễn viên múa chính của ông bầu Diaghilev lừng danh. Với cuộc hôn nhân này, sự hợp lưu kỳ lạ giữa kinh tế học và nhóm Bloomsbury trong quan tâm của Keynes bắt đầu tách biệt, kinh tế học trở thành tâm điểm trong cuộc đời của ông.

Tác phẩm Treatise on Money gồm hai tập xuất bản cuối năm 1930, John Maynard Keynes xem công việc trọn đời ông gắn liền với lĩnh vực tiền tệ. Tuy nhiên, đây chỉ là một bức tranh “tĩnh” về quan điểm của ông trong thời điểm ấy. Dù sao, Treatise cũng đoán trước và thậm chí phát triển một số quan điểm quan trọng của ông về sau này được triển khai trong tác phẩm General Theory.

Nhất là, vai trò chính trong tiết kiệm và đầu tư trong ảnh hưởng mức độ thu nhập - quan điểm phần lớn chịu ảnh hưởng của người bạn và cũng là đồng nghiệp của Keynes tên Dennis H. Robertson - được thảo luận trước tiên trong Treatise.

Hoạt động sáng tác của Keynes sau năm 1930, nếu không kể General Theory thì vẫn rất nhiều. Kỹ năng mô phạm và thuyết phục của ông thể hiện rõ trong Essays in Persuasion (1931) và nhất là trong Essays in Biography (1933), cả hai tác phẩm này đọc vẫn còn lý thú và soi sáng nhiều vấn đề. Ngoài việc ông bênh vực General Theory, Keynes tiếp tục việc diễn thuyết, phục vụ dân chính và nhiệm vụ đối với trường của ông trong giai đoạn này.

Vào cuối những năm 1930, Keynes ngày càng quan tâm đến gánh nặng tài chính do cuộc chiến đang ở ngay trước mắt với Đức. Vấn đề sắp xếp lại thứ tự tài nguyên ưu tiên trong thời chiến và lý thuyết cung vượt cầu được hình thành được giải quyết trong tác phẩm How to Pay for the War, xuất bản năm 1940. Từ năm 1941 đến 1946, John Maynard Keynes đàm phán việc cấp tài chính thuê vay thời chiến và năm 1946 ông là nhân vật chính trong việc dàn xếp khoản vay Marshall dành cho Anh. Trong cùng năm, Keynes là phó chủ tịch Ngân hàng thế giới, ông cũng là nhân vật hàng đầu cùng với Harry Dexter White, trong kế hoạch khôi phục hệ thống tiền tệ quốc tế (được tiến hành ở Bretton Woods, New Hampshire). Hoạt động với cường độ chóng mặt này khiến tim ông vốn đã suy yếu trước đó nay thêm trầm trọng, mùa hè năm 1946, ông mất ở tuổi 63. Thế giới mất đi một nhân tài mà lẽ ra đạt đến đỉnh cao thành tựu trong nhiều lĩnh vực. Nhưng bản thân Keynes chỉ chọn kinh tế học.

Như đã nêu trên, việc biên soạn thực sự quyển General Theory diễn ra trong bối cảnh suy thoái. Từ đầu những năm 1930, John Maynard Keynes quan tâm nhiều đến khủng hoảng việc làm, vốn rất sâu sắc ở Mỹ và Anh. ông nêu vấn đề này trong một số thông cáo gửi đến tổng thống Roosevelt, kể cả lá thư ngỏ nổi tiếng đăng trên tờ The New York Times. John Maynard Keynes khuyến nghị rằng nên sử dụng kiên quyết chính sách tài chính (thuế chính phủ và chính sách chi phí) để bổ sung vào cơ chế thị trường của bộ phận tư nhân, theo Keynes không giải quyết được vấn đề việc làm. Roosevelt dường như áp dụng lời khuyên của Keynes, nhưng ở mức thận trọng. Cho dù tình tiết có ý nghĩa gì đi nữa, nhưng rõ ràng cho thấy bối cảnh đầu những năm 1930 phần lớn diễn ra như suy nghĩ của Keynes trước khi biên soạn General Theory.

Áp lực nội bộ đối với môn kinh tế học cũng chiếm phần lớn tại thời điểm Keynes biên soạn. Kinh tế vi mô Marshall đang trải qua những giai đoạn triển khai cấp tiến, kể cả tác phẩm của E. H. Chamberlin và Joan Robinson. Chính John Maynard Keynes cũng đưa ra nhiều vấn đề về tính thích đáng của lý thuyết Tiền tệ Tân cổ Điển trong Treatise on Money, và một số bạn đồng nghiệp của ông tập trung vào tầm quan trọng của chi phí trong việc xác định tổng đầu ra. Richard Kahn phát triển một khái niệm về bội số đầu tư, và xuất phát từ lý thuyết tiêu chuẩn là chủ đề nhiều thảo luận ở Cambridge giữa Kahn, Robinson, R. G. Hawtrey, và R. F. Harrod, tất cả những người mà Keynes đề cập trong lời tựa quyển General Theory. Hồi tưởng lý thuyết kinh tế Tân cổ Điển và nhất là kinh tế học Marshall đã góp phần vào tác phẩm có ảnh hưởng sâu rộng sau này của John Maynard Keynes. Vì thế sự hợp lưu áp lực bên trong và bên ngoài dẫn ông đến việc đề nghị một biện pháp thay thế trường phái Tân cổ Điển. Keynes tin chắc rằng ông đang xuất phát có ý nghĩa, nhưng cũng thẳng thắn thừa nhận việc chuẩn bị cho chuyến đi cực kỳ khó nhọc.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)