1. Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933 là gì?

Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933 là một cuộc đại suy thoái kinh tế bùng nổ ở Mỹ rồi nhanh chóng lan sang các quốc gia khác, gây ra một tác động vô cùng tiêu cực đến nền kinh tế thế giới. Cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ các nước tư bản với việc chạy đua sản xuất hàng loạt sản phẩm và hàng hoá số lượng lớn, mong đạt được lợi nhuận khổng lồ. Từ đó, người dân không tiêu thụ hết dẫn tới thừa ế sản phẩm và hàng hoá tràn lan, tạo nên sự mất cân bằng giữa cung và cầu, tiền mất giá, tài chính đi xuống trầm trọng. Đồng thời, làm các quan hệ giữa các quốc gia xấu đi, nhiều xích mích và tranh chấp quyền lợi xảy ra.

Về bản chất, cuộc khủng hoảng này xảy ra bởi các nước tư bản đuổi theo lợi nhuận, vì thế sản xuất sản phẩm và hàng hoá một cách ồ ạt. Tuy nhiên, sức mua của người dân lại giảm sút vì quần chúng quá nghèo khổ. Đây được xem là cuộc rủi ro khủng hoảng thừa, trái ngược với cuộc khủng hoảng tài chính năm 1919 - 1924, được xem là cuộc khủng hoảng thiếu.

>> Xem thêm: Khủng hoảng kinh tế là gì? Nguyên nhân, bản chất khủng hoảng kinh tế

 

2. Bối cảnh lịch sử cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933

Sau chiến tranh thế giới thứ nhất trong khi các nước tham chiến và cả Châu Âu gánh chịu hậu quả của cuộc chiến thì Mỹ lại giàu lên một cách nhanh chóng. Kinh tế Mỹ bước vào thời kỳ phồn vinh trong suốt những năm 20 của thế kỉ XX. Nguyên nhân là bởi:

- Đất nước Mỹ cách xa chiến trường, được 2 đại dương lớn bao bọc nên chiến tranh không lan tới.

- Mỹ lợi dụng chiến tranh để kiếm lời từ việc buôn bán vũ khí cho cả 2 phe.

- Trong khi các nước đang mải mê tham gia chiến tranh thì Mỹ tranh thủ sản xuất công nghiệp, phát triển kinh tế.

- Mỹ áp dụng những tiến bộ khoa học vào sản xuất, tham gia chiến tranh muộn nhưng lại được hưởng lợi từ phe thắng trận.

Cho tận đến đêm ngày trước sự sụp đổ 1929 - cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất nước Mỹ từng phải đối mặt, nền công nghiệp ô tô và xây dựng ở Mỹ đã tăng trưởng nhộn nhịp vào những năm 1920 và với việc làm ổn định mà hai ngành kinh tế thịnh vượng này mang lại, tiền lương và tiêu dùng của người dân Mỹ đều được cải thiện. Đến năm 1929, bảng cân đối kế toán tổng hợp của toàn bộ 25.000 ngân hàng Mỹ lên tới 60 tỷ USD. Các tài sản được nắm giữ thận trọng với tỷ lệ cho vay là 60%, còn 15% được giữ dưới dạng tiền mặt. Ngay cả 20% là trái phiếu và trong đó, lượng trái phiếu "siêu an toàn" được phát hành bởi Chính phủ chiếm hơn một nửa. 

Tuy nhiên, đến tháng 9/1929, cuộc khủng hoảng kinh tế đã bắt đầu bùng nổ bắt nguồn từ nước Mỹ. Do vậy, đây cũng là cuộc khủng hoảng lớn nhất thời điểm đó với sức tàn phá nặng nề khiến cho kinh tế nước Mỹ kiệt quệ, công nhân thất nghiệp, các cơ sở sản xuất phải đóng cửa. Lạm phát cao khiến người dân khốn khổ, nghèo đói. 

Nước Mỹ chạy đua ồ ạt sản xuất các mặt hàng nhưng khó tiêu thụ, ế hàng tràn lan. Sản lượng công nghiệp bị giảm sút 50% vì trì trệ với gang thép giảm 75%, ô tô giảm 90%. Hàng loạt xí nghiệp lớn phá sản, nông dân thất thu nghèo khổ.

Cuộc khủng hoảng này cũng ảnh hưởng đến hàng loạt các nước tư bản khác. Các nước như nước Anh, Pháp cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Pháp kéo dài khủng hoảng từ năm 1930 - 1936 với công nghiệp giảm 30%, nông nghiệp 40%, thu nhập quốc dân giảm 30%.

Bên cạnh đó, ở nước Anh, sản lượng gang năm 1931 cũng giảm sút 50%, thép sụt gần 50%, thương nghiệp sụt giảm nặng nề. Nước Đức đến năm 1930 cũng bị sụt giảm sản lượng công nghiệp một cách nghiêm trọng. Các nhà tư bản lựa chọn giải pháp thà đổ hàng, tiêu huỷ chứ không bán giá rẻ hạn chế lạm phát nhưng vẫn không có tác dụng. Tư bản đánh sưu thuế tăng cao để bù lỗ lại càng khiến nhân dân lầm than.

Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 - 1933 thực chất xuất phát từ sự tham lam, tàn độc của đế quốc và thực dân. Từ đó dẫn tới cảnh người dân khốn cùng, điêu đứng rồi buộc phải nổi dậy đấu tranh giành lại sự sống. Từ đó khiến cho mâu thuẫn trong nội bộ quốc gia và giữa các quốc gia bùng cháy, khởi nguồn cho cuộc chiến tranh thế giới mới.

 

3. Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 - 1933

Nguyên nhân chủ yếu đưa đến cuộc khủng hoảng là do sản xuất của chủ nghĩa tư bản tăng lên quá nhanh trong giao đoạn ổn định nhưng nhu cầu và sức mua của người dân lại không tăng tương ứng, khiến hàng hoá ế thừa dẫn tới suy thoái trong sản xuất. Cụ thể, khả năng sản xuất vượt quá khả năng tiêu thụ thực tế, một phần lớn thu nhập quốc dân lại chỉ thuộc về một số ít người. Lợi nhuận của công ty tăng, trong khi người lao động không được nhận phần xứng đáng, không có khả năng mua hàng hoá do chính họ sản xuất.

Lý do thứ hai, chính sách thuế và những món nợ của các chính phủ làm cho hàng hoá không thể bán ra nước ngoài. Việc cấp tín dụng quá dễ dàng cũng tạo ra sự lạm dụng. Người ta mua chứng khoán chủ yếu để đầu cơ, bán lại kiếm lời trong thời gian ngắn sau đó. Hậu quả là chính phủ và tư nhân đều rơi vào tình trạng nợ nần. Ngoài ra, quá trình cơ giới hoá được đẩy mạnh làm giảm nhu cầu về thợ không lành nghề khiến cho tình trạng thất nghiệp gia tăng mạnh mẽ. Thất nghiệp gia tăng trong khi sức mua giảm, chính phủ không có chính sách đúng đắn để khắc phục nạn thất nghiệp nên không thể giảm được nạn nghèo đói.

 

4. Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính năm 1929 - 1933

Khủng hoảng tài chính kéo dài trong hàng năm ở tất cả mọi lĩnh vực dẫn tới sự tiêu điều của rất nhiều đất nước. Các nước tư bản nội bộ lục đục, dẫn đến xích mích giữa giai cấp tư bản và vô sản, giữa người nông dân và địa chủ cực kì gay gắt. Vì thế dẫn tới cao trào cách mệnh, bọn tư bản đàn áp nhân dân khốc liệt làm cho các cuộc bạo loạn xảy ra khắp nơi.

Việt Nam dù không phải nước tư bản nhưng vẫn bị ảnh hưởng nặng nề bởi thực dân tăng cường bóc lột nhân dân, tăng sưu thuế, cướp bóc, chèn ép khiến tài chính của Việt Nam trở nên kiệt quệ. Pháp rút vốn đầu tư từ Đông Dương về chính quốc nên sản xuất ở Việt Nam cũng trở nên đình trệ. Có thể nói, cuộc khủng hoảng tác động trực tiếp đến nền kinh tế thị trường Việt Nam như sau:

- Thực dân Pháp rút vốn từ Đông Dương về chính quốc, đồng thời dùng ngân sách Đông Dương để hỗ trợ cho tư bản Pháp đã làm sản xuất công nghiệp ở Việt Nam trở nên đình trệ do thiếu vốn.

- Lúa gạo trên thị trường thế giới mất giá cũng khiến cho lúa gạo Việt Nam không thể xuất khẩu, từ đó dẫn đến tình trạng ruộng đất bị bỏ phí.

- Công nhân thất nghiệp ngày càng đông, số người dân có việc làm thì tiền lương bị giảm từ 30% đến 50%

- Tiểu tư sản lâm vào tình thế điêu đứng: Nhà buôn nhỏ đóng cửa, viên chức bị sa thải, học sinh, sinh viên ra trường bị thất nghiệp

- Một bộ phận lớn tư sản dân tộc bản địa lâm vào tính thế khó khăn do không thể kinh doanh thương mại và sản xuất.

>> Tham khảo: Bản chất của khủng hoảng kinh tế trong chủ nghĩa tư bản

Trên đây là toàn bộ thông tin xoay quanh cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1929 - 1933 mà Luật Minh Khuê muốn cung cấp đến bạn đọc. Nếu bạn có bất kì thắc mắc nào liên quan đến các vấn đề pháp lý thì vui lòng liên hệ đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 24/7 thông qua số hotline: 1900.6162 để được tư vấn và hỗ trợ nhiệt tình. Xin chân thành cảm ơn