1. Khái quát chung

Để luận giải vai trò của Viện kiểm sát nhân dân về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự thì trước hết phải nhận thức được khiếu nại tố cáo trong  tố tụng hình sự là gì; đặc điểm của nó; các chủ thể có thẩm quyền giải quyết và chủ thể có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự.

2. Khái niệm, đặc điểm, bản chất của khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự

2.1 Khái niệm khiếu nại trong tố tụng hình sự

Theo Từ điển tiếng Việt thì khiếu nại là “đề nghị cơ quan có thẩm quyền xét một việc làm mà mình không đồng ý, cho là trái phép hay không hợp lý”. Về góc độ xã hội, khiếu nại là hiện tượng phát sinh trong đời sống xã hội, thể hiện sự phản ứng có tính tự nhiên của một người đối với hành vi của người khác khi họ cho rằng hành vi đó không phù hợp với các quy tắc chuẩn mực trong đời sống cộng đồng xâm phạm đến quyền và lợi ích của mình. Từ việc nhìn nhận khiếu nại ở nhiều góc độ có thể rút ra khái niệm “khiếu nại” như sau:
Khiếu nại là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hoặc hành vi mang quyền lực nhà nước khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Pháp luật Việt Nam không thừa nhận khiếu nại trong hoạt động lập pháp, mà chỉ quy định khiếu nại trong hoạt động hành pháp (hành chính) và khiếu nại trong hoạt động tư pháp. Vậy, khái niệm “hoạt động tư pháp” là gì? Mặc dù còn nhiều quan điểm hiểu khác nhau về phạm vi rộng, hẹp của “hoạt động tư pháp”. Theo tác giả hoạt động tố tụng nói chung theo pháp luật Việt Nam bao gồm hoạt động trong các lĩnh vực tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính của hai dạng chủ thể: chủ thể mang quyền lực nhà nước (Ví dụ: Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán…); và chủ thể không mang quyền lực nhà nước (Ví dụ: Luật sư, phiên dịch viên..); hoạt động của chủ thể mang quyền lực nhà nước được gọi là “hoạt động tư pháp”; còn hoạt động tố tụng của chủ thể không mang quyền lực nhà nước được  gọi là “hoạt động bổ trợ tư pháp”.
Qua phân tích trên, có thể rút ra một số khái niệm sau:
- “Hoạt động tư pháp” là hoạt động trong các lĩnh vực tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, do các chủ thể mang quyền lực nhà nước về tư pháp thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng.
- “Hành vi tố tụng, Quyết định tố tụng” là một dạng của hoạt động tư pháp, do các chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện”.
- “Khiếu nại trong hoạt động tư pháp” là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật đề nghị cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định, hành vi mang quyền lực nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình".
Như vậy, từ ba khái niệm trên, có thể nói, “khiếu nại trong tố tụng hình sự” là khái niệm nằm trong nội hàm của khái niệm “khiếu nại trong hoạt động tư pháp”. Khái niệm “khiếu nại trong tố tụng hình sự” không được quy định rõ trong Bộ luật tố tụng hình sự, nhưng lại được định nghĩa trong Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT - VKSTC - TATC - BCA - BQP - BTP ngày 10-8-2005, nay là
Thông tư liên tịch số 02/2018/TTLT-VKSTC-TATC-BCA-BQP-BTC- BNN&PTNTngày 05/9/2018 (Sau đây gọi tắt là Thông tư 02).Theo đó“Khiếu nại trong tố tụng hình sự" là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân theo thủ tục quy định tại Chương XXXIII của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền xem xét lại quyết định, hành vi tố tụng, quyết định giải quyết khiếu nại khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình [86].
Hoạt động tố tụng hình sự được các chủ thể có thẩm quyền thực hiện thông qua hai hình thức: quyết định và hành vi. Các quyết định, hành vi trong hoạt động tố tụng hình sự do các chủ thể mang quyền lực nhà nước thực hiện, tác động đến một hoặc một số đối tượng cụ thể, tuy nhiên, phạm vi của các quyết định, hành vi này chỉ bó hẹp trong quan hệ pháp luật tố tụng hình sự, chỉ chịu sự điều chỉnh của pháp luật về tố tụng hình sự.

2. Đặc điểm của khiếu nại trong tố tụng hình sự

Khiếu nại trong tố tụng hình sự cơ bản có những đặc điểm sau:
- Về người khiếu nại: Người khiếu nại trong tố tụng hình sự phải đáp ứng những điều kiện sau: phải có năng lực hành vi tố tụng đầy đủ; phải có quyền, lợi ích hợp pháp chịu tác động trực tiếp bởi quyết định hoặc hành vi tố tụng mà mình khiếu nại. Người khiếu nại bao gồm cá nhân, cơ quan, tổ chức. Tuy nhiên, không phải bất cứ chủ thể cá nhân, cơ quan, tổ chức nào cũng là “người khiếu nại”, mà chỉ những chủ thể theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự xác định địa vị pháp lý là những người tham gia tố tụng và có quyền khiếu nại.
- Về người bị khiếu nại: Người bị khiếu nại là cơ quan, cá nhân có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự; các chủ thể tiến hành tố tụng hình sự thực hiện thẩm quyền của mình thông qua các quyết định và hành vi trong hoạt động tố tụng; các quyết định, hành vi này tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích của các chủ thể khiếu nại. Người bị khiếu nại bao gồm: Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và những cá nhân có thẩm quyền trong các cơ quan này.
- Về đối tượng của khiếu nại: Đối tượng của khiếu nại trong tố tụng hình sự là những quyết định tố tụng, hành vi tố tụng do cơ quan, cá nhân có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự thực hiện. Về bản chất thì quyết định, hành vi trong hoạt động tố tụng giống như quyết định, hành vi trong hoạt động hành chính ở chỗ, chúng đều là những quyết định, hành vi mang tính quyền lực nhà nước; tuy nhiên, chúng có đặc điểm riêng là không mang tính mệnh lệnh hành chính.
Quyết định tố tụng cũng phải được thể hiện dưới hình thức văn bản; do cơ quan hoặc cá nhân có thẩm quyền tiến hành tố tụng ban hành theo quy định của pháp luật; được áp dụng một lần, nhằm điều chỉnh một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể, nhằm giải quyết những vụ, việc trong hoạt động tố tụng.
Hành vi tố tụng là hành vi của người có thẩm quyền (được nhân danh quyền lực nhà nước) tiến hành tố tụng khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật. Hành vi tố tụng cũng được thể hiện dưới hai hình thức: hành động và không hành động; hành động và không hành động đều là hình thức xử sự của các chủ thể được biểu hiện ra bên ngoài dưới những việc làm cụ thể, ví dụ trong trường hợp hành động, như: hành vi bắt, giam, giữ người ; hoặc ví dụ trong trường hợp không hành động, như: Cơ quan điều tra nhận được tố giác, tin báo về tội phạm thuộc thẩm quyền giải quyết nhưng quá thời hạn quy định của pháp luật không ra quyết định xử lý (khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự) do vậy người đã tố giác làm đơn khiếu nại.

3. Khái niệm tố cáo trong tố tụng hình sự

Theo định nghĩa của Luật tố cáo thì tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp của công dân, cơ quan, tổ chức [59].
Qua định nghĩa khái niệm “tố cáo” trong Luật tố cáo, có thể thấy rằng đây là một định nghĩa quy phạm có nghĩa khá rộng, nó điều chỉnh tố cáo trong mọi lĩnh vực, bao quát cả tố cáo trong hoạt động hành chính, trong hoạt động tư pháp.
Như vậy, từ định nghĩa về tố cáo trong Luật tố cáo, chúng ta nhận thấy, khái niệm “tố cáo” nói chung bao gồm: tố cáo trong hoạt động hành chính và tố cáo trong trong hoạt động tư pháp; từ việc phân tích khái niệm “khiếu nại trong tố tụng hình sự”, thấy rằng, “tố cáo trong tố tụng hình sự” cũng là khái niệm có nội hàm nằm trong nội hàm khái niệm “tố cáo trong hoạt động tư pháp”. Về bản chất thì “tố cáo trong tố tụng hình sự” là việc công dân hoặc cá nhân phát hiện và báo cho chủ thể có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của một chủ thể nhất định nào đó; nhưng hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo ở đây phải là hành vi tố tụng của chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự thuộc Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án. Theo Thông tư 02 thì khái niệm “tố cáo trong tố tụng hình sự” được định nghĩa như sau: “Tố cáo trong tố tụng hình sự” là việc cá nhân theo thủ tục quy định tại Chương XXXIII Bộ luật Tố tụng hình sự, báo cho cơ quan, người có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà họ cho rằng hành vi đó gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân [86].

4. Đặc điểm của tố cáo trong tố tụng hình sự

Về người tố cáo: Người tố cáo ở đây là cá nhân, có thể là công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không quốc tịch, là bất cứ ai phát hiện được hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự. Pháp luật nói chung cũng như pháp luật tố tụng không quy định điều kiện về chủ thể, nhưng có thể hiểu rằng người tố cáo cũng cần phải có năng lực hành vi tố tụng đầy đủ, trường hợp mất năng lực hành vi thì phải có người đại diện hợp pháp và phải có giấy tờ chứng minh về việc đại diện hợp pháp; về nguyên tắc, không chấp nhận tố cáo nặc danh, mạo danh. Để tránh việc chủ thể tố cáo nhân danh cơ quan, tổ chức để thực hiện việc tố cáo và để cá thể hóa trách nhiệm người tố cáo, pháp luật quy định chủ thể tố cáo  chỉ duy nhất là cá nhân, chỉ được nhân danh chính bản thân mình, không được lấy danh nghĩa chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức. Như trên đã nêu, Luật tố cáo chỉ quy định “công dân” có quyền tố cáo là thiếu sót, vì kể cả người nước ngoài, người không quốc tịch cũng có quyền phát hiện và tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật để bảo vệ lợi ích của Nhà nước Việt Nam cũng như quyền, lợi ích hợp của mình, nên luận án nêu chủ thể tố cáo là “cá nhân” sẽ khắc phục được thiếu sót này.
Về người bị tố cáo: Người bị tố cáo chỉ là người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự mà người tố cáo cho rằng họ thực hiện hành vi vi phạm pháp luật tố tụng gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước hoặc quyền, lợi ích của bất kỳ chủ thể nào trong xã hội. Người bị tố cáo có thể là những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án.
Về đối tượng của tố cáo: Đối tượng của tố cáo là hành vi trong hoạt động tố tụng hình sự mà người tố cáo cho rằng đó là hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước hoặc quyền, lợi ích của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Pháp luật quy định người tố cáo phải có căn cứ cho rằng hành vi bị tố cáo là trái pháp luật, nhưng thực chất thì đấy chỉ là ý chí chủ quan của người tố cáo, còn căn cứ tố cáo có đúng hay không, hành vi bị tố cáo có vi phạm pháp luật hay không còn tùy thuộc vào quá trình xác minh, kết luận của chủ thể có thẩm quyền. Hành vi trong hoạt động tố tụng được hiểu là hành vi (hành động hoặc không hành động) của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật tố tụng; hành vi tố tụng trong thực tế thường khó xác định, các chủ thể có thẩm quyền thường tiến hành tố tụng thông qua quyết định tố tụng là chủ yếu, còn hành vi tố tụng chính là hành vi ban hành hoặc không ban hành quyết định tố tụng; hành vi tố tụng có thể được hiểu là việc thực hiện hoặc không thực hiện thẩm quyền của chủ thể tiến hành tố tụng, do đó, hành vi tố tụng dễ nhận biết hơn chính là hành vi không ban hành quyết định tố tụng; như vậy, hành vi tố tụng bị tố cáo là hành vi của chủ thể tiến hành tố tụng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng những việc mà pháp luật quy định hoặc thực hiện những việc mà pháp luật cấm, ví dụ: hành vi không ra quyết định khởi tố vụ án; hành vi làm sai lệch hồ sơ vụ án; hành vi bức cung hoặc dùng nhục hình khi hỏi cung… hành vi tố tụng vi phạm pháp luật bị tố cáo có hai dạng: dạng thứ nhất là vi phạm ở mức độ xử lý hành chính (hoặc kỷ luật); dạng thứ hai là vi phạm có dấu hiệu tội phạm, bị truy cứu trách nhiệm hình sự; ngoài ra, hai dạng vi phạm trên nếu gây thiệt hại thì còn phải chịu trách nhiệm dân sự (bồi thường thiệt hại). Việc nhận thức một hành vi vi phạm pháp luật là vi phạm hành chính hay có dấu hiệu tội phạm là hoàn toàn do ý chí chủ quan của người tố cáo, sau đó, các cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành xác minh, kết luận hành vi đó cấu thành vi phạm nào và quyết định hình thức xử lý.

5. Bản chất của khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự

Bản chất của khiếu nại, tố cáo chính là thực hiện quyền dân chủ trực tiếp. Khiếu nại là công cụ pháp lý để cá nhân, cơ quan, tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, khi bị xâm phạm; còn tố cáo là công cụ để cá nhân báo cho cơ quan, người có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Như vậy, khiếu nại, tố cáo là một nội dung quan trọng của nền dân chủ XHCN. Khiếu nại trong tố tụng hình sự là sự phản ánh về những tồn tại, sai sót trong quá trình hoạt động tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, là một kênh thông tin quan trọng để các cơ quan này nâng cao hiệu quả hoạt động của mình, khiếu nại còn được coi như là sự giám sát của nhân dân đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng; còn tố cáo của cá nhân để các cơ quan có thẩm quyền có được những thông tin về những vi phạm pháp luật của đội ngũ cán bộ do mình quản lý để kiểm tra, xem xét và xử lý những vi phạm. Tuy vậy, nếu khiếu nại, tố cáo không được cơ quan có thẩm quyền giải quyết kịp thời, đúng pháp luật hoặc không được cá nhân, tổ chức sử dụng để làm công cụ để bảo vệ quyền cá nhân, cơ quan, tổ chức thì quyền dân chủ sẽ không được thực thi trên thực tế.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê