1. Một số khái niệm

1.1 Khái niệm giáo dục và đầu tư

Khái niệm giáo dục: Giáo dục theo nghĩa chung là hình thức học tập, mà theo đó, những kiến thức, kỹ năng, và thói quen của một nhóm người được trao truyền từ thế hệ này sang  thế hệ  khác thông qua giảng  dạy,  đào  tạo,  hay nghiên cứu. Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông qua tự học. Bất cứ trải nghiệm nào có ảnh hưởng đáng kể đến cách thức người ta suy nghĩ, cảm nhận, hay hành động, đều có thể được xem là có tính giáo dục. Giáo dục còn có thể được coi là hoạt động chuyên môn của xã hội nhằm tác động tới đối tượng được giáo dục theo những yêu cầu của xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định.
Đặc điểm chính trong lý thuyết về đầu tư giáo dục?
Từ giáo dục thường được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
- Theo nghĩa rộng, giáo dục là toàn bộ tác động của gia đình, nhà trường, xã hội, bao gồm cả dạy học và các tác động giáo dục khác đến con người.
- Theo nghĩa hẹp, giáo dục là một quá trình tác động đến thế hệ trẻ một cách toàn diện về mọi mặt (tư tưởng, đạo đức, hành vi,...).
Giáo dục gia đình là sự giáo dục được thực hiện trong phạm vi gia đình, do các thế hệ trước thực hiện, nhằm tác động tới thế hệ sau với mục đích hình thành và củng cố trong thế hệ sau những phẩm chất, năng lực phù hợp với  quan điểm của thế hệ trước cũng như phù hợp với hệ chuẩn mực của xã hội. Đây là một hoạt động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có sự chuẩn bị...) của những người giáo dục (thế hệ trước), tác động một cách  thường xuyên, liên tục tới đối tượng được giáo dục (hế hệ sau), nhằm đạt tới mục đích mà người giáo dục đã định.
Như vậy, có thể hiểu: Giáo dục gia đình là những hoạt động tự giác   (có hệ thống, có mục đích, có kế hoạch, có sự  chuẩn bị...) của  thế hệ trước, tác động đến thế hệ sau, nhằm hình thành ở thế hệ sau những phẩm chất, những giá trị và kỹ năng… theo mong muốn của thế hệ trước và theo yêu cầu của xã hội.
Khái niệm đầu tư: Đầu tư, theo nghĩa rộng được hiểu là “sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho nhà đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để có được các kết quả đó”. Các nguồn lực được huy động vào đầu tư có thể là tài nguyên thiên nhiên, sức lao động, vốn, công nghệ. Các kết quả thu được ở đây có thể là lợi ích kinh tế xã hội (thể hiện ở lợi ích mà toàn xã hội đạt được từ việc đầu tư như tăng trưởng kinh tế nhờ tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và sự phát triển của từng cá nhân trong xã hội, nâng cao trình độ dân trí,...) hay lợi ích tài chính (thể hiện ở lợi nhuận mà nhà đầu tư thu được từ việc đầu tư).

1.2 Khái niệm đầu tư giáo dục

Trên thế giới, từ những năm 30 của thế kỷ XX, các học giả bắt đầu đưa khái niệm đầu tư vào lĩnh vực giáo dục và gọi là đầu tư giáo dục. Đầu tư cho giáo dục được hiểu từ phía Nhà nước, tư nhân, hộ gia đình và cá nhân người học.
Nhà nước đầu tư cho giáo dục sẽ mang lại nguồn nhân lực cho xã hội; Hộ gia đình đầu tư cho giáo dục kỳ vọng cho cá nhân sẽ thu thập được kỹ năng, trình độ để nâng cao vốn nhân lực của bản thân. Nguồn vốn nhân lực này được đo lường bằng mức lợi tức giáo dục mang lại (ROR). Theo cách tính toán của Ngân hàng Thế giới thì đầu tư cho giáo dục tiểu học tỷ lệ thu hồi vốn là 24% so với vốn đầu tư, cho trung học là 17%, và cao đẳng đại học là 14%, trong khi đó đầu tư vào các ngành sản xuất vật chất tỷ lệ thu hồi chỉ đạt 13% tổng vốn đầu tư;

1.3 Khái niệm chi tiêu giáo dục

Chi phí trực tiếp: Chi phí trực tiếp cho giáo dục bao gồm học phí và các khoản lệ phí khác, chi mua sắm sách giáo khoa, vở và đồ dùng học tập, chi cho đi lại và lưu trú (nếu học ở xa nhà), chi mua đồng phục và đóng góp các quỹ khác ở nhà trường,...
Chi phí gián tiếp hay còn gọi là chi phí cơ hội của giáo dục: được xác định trên cơ sở đặt giả thiết: Điều gì sẽ xảy ra nếu việc đầu tư cho giáo dục ĐƯỢC/hay KHÔNG ĐƯỢC tiến hành. Nếu không đi học, người học và gia đình có thể dành thời gian và chi phí của mình cho việc đi chơi, đi làm, hoặc đầu tư cho các hoạt động khác. Giá trị của cơ hội lớn nhất mất đi khi quyết định đầu tư cho hoạt động giáo dục sẽ cho phép ta tính toán chi phí gián tiếp (chi phí cơ hội) của giáo dục.

1.4 Các yếu tố tác động tới đầu tư giáo dục

Ở trong bất cứ một hoàn cảnh nào, hoạt động đầu tư bao giờ cũng được kỳ vọng sẽ đem lại lợi nhuận. Do vậy, gia đình và cá nhân đầu tư vào giáo dục cũng kỳ vọng tăng năng lực cá nhân nhằm tăng cơ hội phát triển và tồn tại trong xã hội. Vì đầu tư giáo dục ở góc độ cá nhân sẽ làm tăng vốn nhân lực cho bản thân cá nhân đó, đồng thời cũng làm tăng vốn nhân lực cho toàn xã hội. Đầu tư giáo dục của hộ gia đình chỉ có hiệu quả nếu thu nhập kỳ vọng đạt được sau khi học và đi làm bù đắp được khoản chi phí cho học tập trước đó (bao gồm chi phí trực tiếp và gián tiếp).
Đầu tư giáo dục của hộ gia đình xuất phát từ môi trường giáo dục gia đình. Về tổng thể, chức năng giáo dục của gia đình được hình thành một cách có ý thức, có nghĩa là ông bà, cha mẹ và những người lớn trong gia đình đã từng bước hình thành một môi trường giáo dục gia đình. Môi trường giáo dục gia đình được hình thành rất khác nhau, phụ thuộc vào truyền thống gia đình, điều kiện kinh tế, bề dày văn hóa, đạo đức, trình độ tri thức của các thành viên trong gia đình nhất là cha mẹ, và định hướng phát triển của mỗi gia đình. Vì vậy, các quyết định ảnh hưởng tới đầu tư giáo dục của hộ gia đình phụ thuộc rất nhiều vào môi trường giáo dục của gia đình đó.

2. Lý thuyết về đầu tư giáo dục

2.1 Lý thuyết vốn nhân lực

Có nhiều khái niệm về vốn con người hay còn gọi là vốn nhân lực (human capital). Theo K.Marx, sức lao động với với toàn bộ năng lực, thể lực, trí lực ở một khía cạnh nào đó được coi là vốn con người; Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) vốn nhân lực là kiến thức, kỹ năng, năng lực và những thuộc tính tiềm tàng trong mỗi cá nhân; theo Becker (1964) vốn nhân lực là sự kết hợp không thể tách rời kiến thức, kỹ năng, sức khỏe của một cá thể, là một của cải tư, mang đến lợi tức cho người có vốn đó; theo Mc.Connell, Brue và Macpherson, vốn con người là sự tích lũy trước đó vào giáo dục, đào tạo, sức khỏe và những nhân tố khác để làm tăng năng suất lao động; theo giáo trình Kinh tế nhân lực của Đại học kinh tế quốc dân, vốn nhân lực là tập hợp các kiến thức, khả năng, kỹ năng mà con người tích lũy được (Thành, 2014)3.
Khoa học về vốn nhân lực được đặt ra từ thế kỷ XVIII khi Adam Smith viết tác phẩm “Sự thịnh vượng của các quốc gia” (The wealth of nations – 1776). A.Smith tin rằng “mỗi con người đều chính thức bị thúc động bởi tư lợi mà điển hình là lòng ham muốn của cải. Các động lực ích kỷ là căn cốt của các hành động của con người. Sự ích kỷ của cá nhân đã đem đến lợi ích xã hội, nếu mỗi con người cố gắng làm lợi cho chính mình một cách đều đặn, không ngừng thì sẽ dẫn đến sự thịnh vượng của quốc gia”.
Lý thuyết về vốn nhân lực hiện đại cho rằng “tất cả các hành vi của con người đều xuất phát từ những nhu cầu lợi ích kinh tế cho chính các cá nhân hoạt động tự do trong thị trường mang tính cạnh tranh. Nội dung chính của lý thuyết cho rằng các cá nhân đầu tư vào giáo dục và đào tạo nhằm tích lũy những khả năng và kiến thức (một phần vốn nhân lực), những cái có thể mang lại lợi ích lâu dài sau đó. Sự đầu tư này mang lại lợi ích kinh tế quốc dân và thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế4.
Lý thuyết vốn nhân lực nhấn mạnh đến khái niệm các cá nhân là những người đầu tư. Lý thuyết này cho rằng các cá nhân sẽ đầu tư vào giáo dục để kiếm được lợi ích cao hơn vào những năm sau khi học. Sự đầu tư này bao gồm các chi phí học tập và việc mất thu nhập trong ngắn hạn do dành thời gian cho việc đi học, tuy nhiên, nhà đầu tư hy vọng sẽ kiếm được thu nhập cao hơn trong tương lai.
Vốn nhân lực có các đặc điểm như sau:
(1) Thứ nhất, vốn con người không thể chuyển nhượng, mua bán, hoặc thế chấp.
(2) Thứ hai, mỗi cá nhân đầu tư cho việc học hành mong muốn đạt được nhiều lợi ích hơn khi tham gia vào thị trường lao động. Tuy nhiên, lợi ích đạt được trong tương lai phụ thuộc nhiều vào nữ lực của các cá nhân trên thị trường lao động. Những nỗ lực này không được đảm bảo nên đầu tư vốn con người mang tính rủi ro cao. Thêm nữa, tính rủi ro của đầutư cho giáo dục còn xuất phát từ tính không thể điều chỉnh được của việc đầu tư cho giáo dục, do đầu tư cho giáo dục có đỗ trễ rất lớn. Ví dụ, một người đầu tư cho việc đi học đại học mất 4 năm, nhưng khi ra trường thấy thu nhập của mình thấp thì hầu như không thể đi học lại để trở thành một bác sỹ.
(3) Thứ ba, vốn nhân lực không làm cho người sở hữu nó trở thành nhà tư bản. Ngoại trừ việc người lao động tự làm việc (self-employed) thì người sở hữu vốn nhân lực sẽ trở thành người làm công ăn lương.
Vốn nhân lực được tích lũy qua 3 giai đoạn chính trong đời người, đó là:
(1) giai đoạn ban sơ (do bẩm sinh hoặc tiếp nhận, chủ yếu là ở nhà), (2) giai đoạn giáo dục chính quy; và (3) giai đoạn đào tạo trong công việc (on-the-job- training). Việc nghiên cứu và đo lường kết quả trên thị trường lao động từ vốn nhân lực được tích lũy trong giai đoạn giáo dục chính quy được nghiên cứu nhiều nhất do các yếu tố vốn con người lúc này dễ đo đạt nhất.

2.2 Lý thuyết đầu tư vốn nhân lực

Vốn nhân lực được hình thành thông qua việc đầu tư cho người lao động, bao gồm các khoản đầu tư cho giáo dục, đầu tư đào tạo nghề, chăm sóc sức khỏe và các khoản phúc lợi xã hội khác. Đầu tư vốn nhân lực là hoạt động ảnh hưởng tới thu nhập thực tương lai thông qua các nguồn lực. Với các phương thức đầu tư khác nhau thì có sự khác nhau về ảnh hưởng tương đối tới thu nhập và tiêu dùng, về nguồn lực đầu tư, về quy mô hoàn trả và trong liên hệ giữa việc đầu tư và mức độ hoàn trả. Tuy nhiên, tất cả nhưng phương thức đầu tư nhằm cải thiện khả năng vật chất và trí tuệ của con người đều làm tăng thu nhập thực tế trong tương lai5.
Lý thuyết đầu tư vốn nhân lực của Gary Becker (1964) chỉ ra các phương thức đầu tư vào vốn nhân lực bao gồm đi học, đào tạo trong công việc, chăm sóc y tế, và các phúc lợi xã hội khác. Giống như các hình thức đầu tư khác, đầu tư vốn nhân lực cũng bao gồm các chi phí phát sinh trong ngắn hạn và kỳ vọng lợi nhuận/lợi tức tích lũy trong tương lai. Các chi phí đầu tư vốn nhân lực có thể chia thành 3 loại: (1) Chi phí trực tiếp, bao gồm học phí, các khoản chi tiêu cho sách vở và các khoản chi khác; (2) chí phí gián tiếp: tăng lên vì trong thời gian đầu tư thường không thể làm việc, ít nhất là không làm việc hoàn toàn; (3) những tổn thất về tinh thần xuất hiện vì việc học thường là khó và không hấp dẫn.
Trong trường hợp đầu tư cho giáo dục và đào tạo, lợi tức kỳ vọng là mức thu nhập cao hơn trong tương lại, làm tăng thỏa dụng nghề nghiệp trong suốt thời gian lao động, và làm gia tăng những hoạt động phi thị trường và lợi ích6.
Đầu tư vốn nhân lực qua giáo dục và đào tạo được đo lường bằng theo 3 thước đo: bẩm sinh, giáo dục chính quy (thể hiện qua trình độ học vấn) và giáo dục trong công viẹc (thể hiện qua kỹ năng nghề nghiệp của người lao động tích lũy trong quá trình lao động). Cũng giống như việc tính toán thực hiện các dự án đầu tư, trong trường hợp đầu tư cho giáo dục, các cá nhân cân nhắc dựa trên các tính toán chi phí và lợi ích của việc đi học. Nếu lợi ích của việc đi học lớn hơn chi phí thì đầu tư cho việc đi học là có hiệu quả. Việc phân tích chi phí – lợi ích của việc đầu tư cho giáo dục sẽ giúp đo lường các những hiệu ứng của sự tăng lên trong lượng đầu tư vốn con người.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê