- 1. Cơ sở chính trị - pháp lý
- 2. Đặc điểm của nghề nghiệp thẩm phán
- 3. Chuẩn mực quốc tế về đạo đức nghề nghiệp của thẩm phán
- 4. Khái quát về Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán Việt Nam
- 5. Sự liêm chính trong chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp thẩm phán
- 6. Sự vô tư, khách quan trong chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp thẩm phán
1. Cơ sở chính trị - pháp lý
Khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: "Tòa án nhân đan là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp". Như vậy, Hiến pháp đã quy định rõ bằng việc thực hiện chức năng xét xử, Tòa án nhân dân có vị trí là cơ quan thực hiện quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Quyền tư pháp, chức năng xét xử của Tòa án nhân dân thể hiện ở chỗ:
- Tòa án nhân dân là cơ quan duy nhất có quyền ra phán quyết về các vi phạm pháp luật, các tranh chấp pháp lý xảy ra trong xã hội; xử lý các vi phạm bằng chế tài Nhà nước, giải quyết các tranh chấp bằng quyền lực Nhà nước đều thuộc thẩm quyền của Tòa án;
- Quyền con người là quyền thiêng liêng, quan trọng nhất đối với con người, do Hiến pháp quy định và thực hiện trực tiếp mà không càn thông qua luật định. Vì vây, Tòa án nhân dân là cơ quan phán quyết duy nhất phán quyết những vấn đề về quyền con người, về tình trạng công dân (như tuyên bố một người đã chết, xác định cha mẹ, cho con, tuyên bố tước, hạn chế tự do, áp dụng các hình phạt liên quan đến quyền con người...).
Bằng các quy định trên, về thực chất có thể hiểu tư pháp chính là xét xử; thực hiện chức năng xét xử chính là thực hiện quyền tư pháp. Hiến pháp khẳng định vị trí trung tâm của tòa án trong hệ thống tư pháp, vị trí trọng tâm của hoạt động xét xử trong các hoạt động tư pháp.
Để thực hiện quyền tư pháp, Hiến pháp cũng quy định nhiệm vụ của Tòa án nhân dân một cách cụ thể, rõ ràng. Theo khoản 3 Điều 102 Hiến pháp 2013, Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Hiến pahps đã nhấn mạnh việc bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân là những nhiệm vụ đầu tiên của Tòa án nhân dân; sau đó mới là nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Đó là nhiệm vụ đặc trưng thể hiện cao nhất, tập trung nhất đối với cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp. Tòa án phải là nơi mà moị con người, mọi công dân tìm đến lẽ phải, sự công bằng.
Vì vậy có thể nói, Tòa án là biểu tượng của công lý có nhiệm vụ bảo vệ công lý. Niềm tin của nhân dân vào Tòa án chính là niềm tin vào Công lý.
2. Đặc điểm của nghề nghiệp thẩm phán
Thẩm phán là vị trí trung tâm trong hệ thống Tòa án, đảm nhận nhiệm vụ xét xử các vụ án, giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền để thực hiện nhiệm vụ hiến định. Khác với công chức khác trong bộ máy nhà nước, nghề thẩm phán có những đặc điểm riêng biệt:
- Thứ nhất: thẩm phán luôn luôn tiếp xúc trực tiếp với con người; kết quả công việc của thẩm phán ảnh hưởng trực tiếp đến sinh mệnh chính trị cũng như tự nhiên của mỗi con người, ảnh hưởng đến lợi ích cộng đồng. Nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, bảo vệ quyền con người, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân được hiến định cũng chính là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Thẩm phán.
- Thứ hai: Thẩm phán là người áp dụng pháp luật. trên cơ sở xác định sự kiện pháp lý, sự thật khách quan của vụ án, thẩm phán áp dụng quy định của pháp luật để phán quyết về vi phạm pháp luật, tranh chấp pháp lý và phán quyết đó làm phát sinh hậu quả đối với con người, đối với xã hội. Mọi hoạt động nghề nghiệp của Thẩm phán đều được thực hiện đúng với trình tự, thủ tục do pháp luật quy định; chịu sự tác động trực tiếp của pháp luật. Sự thật, pháp luật, công bằng, công lý luôn là những yếu tố song hành cùng Thẩm phán trong công việc cũng như cuộc sống thường nhật.
- Thứ ba: là người được giao thực hiện quyền lực nhà nước, phán quyết liên quan đến sinh mệnh chính trị, tự nhiên của con người, đến lợi ích xã hội, cộng đồng,... cho nên hoạt động của Thẩm phán luôn chịu sự kiểm soát của pháp luật; sự giám sát của cơ quan lập pháp, hành pháp; sự giám sát của dư luận xã hội và của nhân dân theo quy định của pháp luật.
Ngoài sự giám sát từ bên ngoài, Thẩm phán còn phải chịu sự giám sát trong nội bộ Tòa án. Cho nên, cùng với pháp luật, các quy chế hành nghề, quy phạm đạo đức của thẩm phán là những công cụ cho sự việc giám sát, kiểm soat bên trong hệ thống Tòa án nhân dân; đó cũng là những tiêu chí mà Thẩm phán căn cứ vào để sống và làm việc; các cơ quan có thẩm quyền và công chúng thực hiện kiểm soát, giám sát.
3. Chuẩn mực quốc tế về đạo đức nghề nghiệp của thẩm phán
Sự liêm chính, vô tư, khách quan là một trong những nội dung quan trọng đảm bảo hiệu quả hoạt động nghề nghiệp của Thẩm phán; đảm bảo niềm tin của công chúng vào hệ thống Tòa án, vào công lý. Vì vậy, cộng đồng tư pháp các quốc gia trên thế giới và Việt Nam đều coi sự liêm chính, vô tư, khách quan là một trong những tiêu chí hàng đầu của quy tắc Thẩm phán.
- Sự liên chính, vô tư, khách quan luôn là nội dung, yêu cầu cơ bản của các văn kiện quốc tế về Thẩm phán và nghề nghiệp Thẩm phán.
Quy tắc Đạo đức tư pháp Bangalore là văn kiện mang tính toàn cầu thể hiện khá đầy đủ các quy tắc đạo đức thẩm phán. Theo Bộ quy tắc này, các nguyên tắc được xây dựng nhằm mục đích thiết lập các chuẩn mực đạo đức của thâm phán. Chúng được xây dựng như kim chỉ nam cho các Thẩm phán và để tạo cho ngành tư pháp một khung điều chỉnh đạo đức tư pháp.
Quy tắc này xác định tính vô tư có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện tốt các nhiệm vụ của Thẩm phán; đó không chỉ là yêu cầu áp dụng đối với các quyết định được đưa ra, mà còn là yêu cầu áp dụng với cả quá trình ra quyết định (Nguyên tắc 2). Cũng theo Quy tắc này, sự chính trực, đúng mực, không sử dụng vị trí nghề nghiệp để mưu cầu lợi ích riêng cho cá nhân và gia đình cũng là điều cốt yếu để thực hiện tốt các nhiệm vụ của một thẩm phán (Nguyên tăc 3, 4).
Quy chế toàn cầu của Thẩm phán (Hiến chương của thẩm phán) được hội đồng trung ương của Hiệp hội Thẩm phán quốc tế thông qua Hội nghị ngày 17 tháng 11 năm 1999 tại Đài Bắc quy định: " Thẩm phán phải cần tỏ ra vô tư, khách quan trong khi thực hiện hoạt động tại Tòa án. Anh ta phải hoàn thành nhiệm vụ với sự đúng mực và phẩm cách đối với công việc và đối với mọi người liên quan" (Điều 5)...
4. Khái quát về Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán Việt Nam
Ngày 04/07/2018, Hội dồng tuyển chọn, giám sát Thẩm phán quốc gia đã ban hành Quyết định về Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán. Bộ quy tắc quy định những chuẩn mực đạo đức vaf quy tắc ứng xử của Thẩm phán.
Bộ quy tắc áp dụng đối với Thẩm phán công tác tại Tòa án nhân dân, Tòa án quân sự các cấp; khuyến khích áp dụng đối với các thẩm phán đã nghỉ hưu hoặc chuyển công tác khác.
cùng với chuẩn mực đạo đức khác, Bộ quy tắc quy định về sự liêm chính, sự vô tư, khách quan như là chuẩn mực đạo đức hàng đầu mà Thẩm phán các Tòa án Việt Nam cần tuân thủ.
5. Sự liêm chính trong chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp thẩm phán
Điều 4 Bộ quy tắc quy định:
"1. Thẩm phán phải liêm chính, trong sạch, thẳng thắn, trung thực. Thẩm phán không được lợi dụng địa vị để mưu cầu lợi ích cho mình hoặc nhận tiền, tài sản, những lợi ích khác từ bất kỳ ai vì lý do liên quan đến công việc mà Thẩm phán giải quyết. Thẩm phán phải công khai thu nhập cá nhân theo quy định của pháp luật".
Theo quy định thì Thẩm phán phải liêm khiết, trong sạch, không lợi dụng địa vị Thẩm phán, lợi dụng nhiệm vụ, quyền hạn trong giải quyết các vụ án để mưu cầu lợi ích cho bản thân hoặc gia đình như chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói, cán bộ Tòa án nói chung, đặc biệt là Thẩm phán phải "Phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư".
Là người có thẩm quyền xét xử các vụ án, phán quyết các tranh chấp liên quan đến lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân, cho nên Thẩm phán phải đối mặt với rất nhiều cám dỗ về lợi ích vật chất hoặc phi vật chất. Thẩm phán phải liêm chính có nghĩa rằng người Thẩm phán liêm khiết thôi thì cũng chưa đủ; đi cùng với sự liêm khiết trong công việc và đời sống, Thẩm phán phải thể hiện thái độ chính trực trong công việc.
6. Sự vô tư, khách quan trong chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp thẩm phán
Điều 5 Bộ quy tắc quy định:
"1. Thẩm phán phải vô tư, khách quan; thực hiện nhiệm vụ một cách đúng đắn, không vì lợi ích cá nhân, không thiên vị bất cứ bên nào trong vụ việc.
Thẩm phán phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét công khai tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, tập quán, tương tự pháp luật, những nguyên tắc cơ bản của pháp luật, án lệ, lẽ công bằng để giải quyết tất cả các vấn đề của vụ việc.
Thẩm phán không được có bất cứ phát biểu hay bình luận nào tại phiên tòa, phiên họp, trước công chúng hoặc truyền thông làm ảnh hưởng tới việc giải quyết vụ việc một cách vô tư, khách quan".
Theo quy định tại Điều này, thẩm phán phải được thực hiện nhiệm vụ một cách vô tư, khách quan, không thiên vị, không phân biệt về dân tộc, giới tính, địa vị xã hội, nghề nghiệp...
Trong trường hợp, nếu có sự xung đột lợi ích trong vụ việc, quyền hoặc lợi ích của mình hoặc người thân thích trong gia đình có liên quan đến vụ việc mà Thẩm phán đang giải quyết, thì Thẩm phán phải từ chối tiến hành tố tụng theo quy định của luật; hoặc trong mọi trường hợp, nếu Thẩm phán thấy rằng, việc giải quyết vụ án có thể bị ảnh hưởng, thiếu vô tư, khách quan (như liên quan đến lợi ích của bản thân, cấp trên, cấp dưới, họ hàng xa...) thì thẩm phán cũng cần chủ động từ chối tiến hành tố tụng. Thực tiễn chứng minh rằng, thiếu vô tư, khách quan trong xét xử các vụ án thường dẫn Thẩm phán đến các sai lầm nghiêm trọng; thậm chí, làm oan người vô tội, vi phạm nghiêm trọng quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.