1. Khái niệm nhóm tội phạm

Hiện nay, các khái niệm như tổ chức tội phạm, tội phạm có tổ chức, phạm tội có tổ chức vẫn còn có nhiều ý kiến chưa thống nhất. Chỉ có khái niệm phạm tội có tổ chức đã được Bộ luật Hình sự nước ta quy định, còn hai khái niệm tổ chức tội phạm, tội phạm có tổ chức chưa được chính thức ghi nhận về mặt pháp lý. Sự không thống nhất về nhận thức này gây nên những khó khăn trở ngại cho việc  nghiên cứu phục vụ phòng chống tội phạm.
Trên cơ sở các khái niệm công cụ của tâm lý học, trong đó có khái niệm nhóm của tâm lý học xã  hội, tâm lý học tội phạm xác định:
 Nhóm phạm tội là nhóm hình thành bất hợp pháp và nguy hiểm cho xã hội giữa các thành viên có sự liên kết với nhau trong hoạt động phạm tội.
Nhóm phạm tội là tập hợp từ hai người trở lên liên kết với nhau để hoạt động phạm tội
Nhóm phạm tội được hình thành, đó là một sự chuyển dịch nguy hiểm trong hoạt động phạm tội. Khi tham gia nhóm phạm tội, cá nhân thành viên sẽ thực hiện được những “kế hoạch hành động” với những phương thức thủ đoạn mà từng cá nhân khi hoạt động đơn lẻ không thể nào thực hiện được; chúng sẽ tiến hành nhiều hoạt động phạm tội nguy hiểm và gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng.  
Ngoài hậu quả trên, hàng loạt những vấn đề tiêu cực đã xuất hiện đi kèm theo sự phát sinh, phát triển của các nhóm phạm tội, trước hết đó là tình trạng mất ổn định trong sinh hoạt hàng ngày của quần chúng trước các hiện tượng tiêu cực, tình trạng hoang mang và thái độ thờ ơ trước hành vi phạm tội, không còn tin vào sự công minh và hiệu quả của pháp luật.
Hiện trạng tiêu cực của xã hội được nhân thêm bởi những nhóm phạm tội đủ các kiểu loại. Chúng dùng mọi thủ đoạn để mua chuộc, lôi kéo cán bộ trong hệ thống công quyền bao che cho hoạt động phạm tội của chúng. Nó làm đảo lộn nhiều giá trị truyền thống, thậm trí đảo lộn cả chân lý thông thường; tình trạng trật tự, kỷ cương xã hội có sự nhũng nhiễu và mối quan hệ người - người nhiều  khi trở nên dè dặt.
Nhóm phạm tội và đồng phạm là hai khái niệm khác nhau, vì trong đồng phạm có thể có ng¬ười không phải là thành viên của nhóm; tất cả các thành viên của nhóm có thể không cùng tham gia tất cả các vụ việc phạm tội, nên có ng¬ười đồng phạm về 1 tội, nhưng có người thì đồng phạm về 2 tội.
 

2. Đặc điểm của nhóm phạm tội

Nhóm phạm tội mang những đặc điểm chung của nhóm: Nhóm là tập hợp gồm từ hai người trở lên, có mục đích chung, có người đứng đầu, có chuẩn mực - nội quy, quy định đảm bảo cho sự tồn tại của nhóm.
Những đặc điểm chung này của nhóm được thể hiện cụ thể ở nhóm phạm tội:
 - Nhóm phạm tội gồm từ hai đối tượng trở lên, nguyên nhân, lý do gia nhập nhóm và mức độ hoạt động phạm tội của các thành viên không hẳn giống nhau => Cần tìm hiểu những vấn đề đó để có biện pháp tác động đấu tranh phù hợp với từng đối tượng.
- Bao giờ cũng có thủ lĩnh. Thủ lĩnh thường là người có mưu mẹo, ít khi "nhúng tay" thực hành tội phạm => Vì vậy trong đấu tranh với nhóm phạm tội cần tránh rút dây, động rừng; phải thu thập đ¬ược chứng cứ để kết tội được thủ lĩnh.
- Mối quan hệ giữa các thành viên mang tính vụ lợi cá nhân là chủ yếu. Tuy  có những quy định, quy ¬ước thành văn hoặc không thành văn thể hiện ở các dạng khác nhau để chúng ràng buộc nhau, đảm bảo cho sự tồn tại, hoạt động của nhóm, nhưng khi quyền lợi cá nhân bị đe dọa thì chúng sẵn sàng gạt bỏ nhau, thậm chí trừ khử nhau => Phải lợi dụng và khoét sâu mâu thuẫn: Trên cơ sở mâu thuẫn đã và đang tồn tại về tình ái, ăn chia, đối xử với nhau,v.v... để gieo rắc sự nghi ngờ của đối t¬ượng về lòng trung thành của đồng bọn, gia tăng mâu thuẫn; tính toán thiệt, hơn làm cho đối tượng nảy sinh suy nghĩ bản thân không có lợi, thậm chí có hại khi không hợp tác với cán bộ điều tra.
- Sự tương tác tâm lý của thủ lĩnh đối với các thành viên và giữa các thành viên với nhau khiến cho tâm lý chần chừ do dự biến mất và sự hung hăng, tàn bạo khi thực hiện hành vi phạm tội gia tăng. Người phạm tội đơn lẻ khi hành động sẽ căng thẳng, đấu tranh quyết liệt; nhưng đối với nhóm phạm tội, việc có nhiều người tham gia, chúng dễ thống nhất quyết định phạm tội, chỉ cần một đối tượng khởi xướng thì lập tức được các đối tượng khác đồng tình hưởng ứng. Vì vậy, phải chia cắt, không cho chúng co cụm "dựa lưng" vào nhau để chống đối các lực lượng chức năng, gây ra những hậu quả phức tạp, khó lường hoặc cần chú ý những tác động giữa chúng có thể ảnh hưởng không tốt tới hoạt động đối chất, thực nghiệm điều tra.
Ngoài những đặc điểm của nhóm không chính thức, nhóm phạm tội có những đặc điểm đặc trưng:
- Mục đích hoạt động của nhóm là cố ý phạm tội. Tuy nhiên, không phải mọi thành viên lúc đầu tham gia vào nhóm phạm tội đều ý thức đầy đủ vấn đề đó (có người do bạn bè rủ rê, lôi kéo, mua chuộc, do tình cảnh éo le, v.v...)
- Mối quan hệ giữa các thành viên trong nhóm tương đối bền vững, phụ thuộc vào sự phân chia địa vị trong nhóm, kết quả của hoạt động phạm tội. Nhưng bao trùm lên mối quan hệ trên là quyền lợi cá nhân. Chúng thấy cần liên kết với nhau sẽ có lợi hơn khi hoạt động một mình, trong quá trình hoạt động, nếu lợi ích cá nhân bị đe dọa và để bảo vệ lợi ích cá nhân chúng sẽ giành giật, thậm chí tiêu diệt lẫn nhau.
- Trong nhóm phạm tội, sự chi phối hoạt động là thủ lĩnh. Thủ lĩnh nhóm phạm tội thường là đối tượng được các thành viên trong nhóm suy tôn, thừa nhận. Thủ lĩnh quyết định phương hướng hoạt động phạm tội, tổ chức điều khiển các thành viên trong nhóm hành động và phân chia kết quả thu được. Trong quan hệ giữa thủ lĩnh với các đàn em thường là áp đặt, không từ một thủ đoạn để ràng buộc thành viên và loại bỏ thành viên trên cơ sở lợi ích cá nhân thủ lĩnh.
- Trong nhóm có độ ám thị rất cao. Sự ám thị của thủ lĩnh với các thành viên trong nhóm, sự ám thị lẫn nhau giữa các thành viên làm giảm trạng thái hồi hộp lo lắng, căng thẳng khi cá nhân tiến hành hoạt động phạm tội, làm tăng tính quyết đoán của những phần tử hay dao động, chần chừ. Vì vậy, hành vi phạm tội của các thành viên trở nên dã man, tàn bạo, nguy hiểm.
- Đối với những nhóm phạm tội có số thành viên đông, hoạt động trên địa bàn rộng thì các thành viên thường không ý thức được như nhau về hậu quả tội phạm do toàn nhóm gây ra.
 

3. Phân loại nhóm phạm tội

3.1 Căn cứ vào thời gian tồn tại của nhóm phạm tội

thì nhóm phạm tội chia thành hai loại: nhóm phạm tội tạm thời và nhóm phạm tội ổn định
+ Nhóm phạm tội tạm thời: Nhóm phạm tội tạm thời là nhóm được hình thành theo tình huống và thường bắt nguồn từ nhóm mang tính chất “trung tính bề ngoài" hoặc nhóm bị “tổn thất" các quan hệ xã hội tích cực, do ảnh hưởng của các tác động tiêu cực mà chuyển thành nhóm phạm tội, hoạt động lỏng lẻo phụ thuộc nhiều vào tình huống, dễ bị tan rã khi một tên trong nhóm bị bắt hoặc bị truy đuổi.
+ Nhóm phạm tội ổn định: Nhóm được đặc trưng bởi sự bền vững trong quan hệ giữa các thành viên, bởi sự định hình các phương thức hoạt động phạm tội, phương thức che giấu tội phạm và tồn tại trong thời gian dài.
Hậu quả do nhóm phạm tội gây ra trước hết là sự băng hoại nhân cách. Sự lệch hướng của những quá trình phát triển nhân cách. Mọi thành viên là nạn nhân của chính mình và của nhóm.
Nhóm phạm tội được hình thành, đó là một sự chuyển dịch nguy hiểm trong hoạt động phạm tội. Chúng sẽ tiến hành nhiều hoạt động phạm tội nguy hiểm và gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng. Đặc biệt bằng sự hoạt động của nhóm sẽ thực hiện những kế hoạch hành động với những phương thức thủ đoạn mà từng cá nhân không thể nào thực hiện được.
Ngoài hậu quả trên, hàng loạt những vấn đề tiêu cực đã xuất hiện đi kèm theo sự phát sinh, phát triển của các nhóm phạm tội, trước hết đó là tình trạng mất ổn định trong sinh hoạt hàng ngày của quần chúng trước các hiện tượng tiêu cực, tình trạng hoang mang và thái độ thờ ơ trước hành vi phạm tội, không còn tin vào sự công minh và hiệu quả của pháp luật.
Hiện trạng tiêu cực của xã hội được nhân thêm bởi những nhóm phạm tội đủ các kiểu loại. Chúng dùng mọi thủ đoạn để mua chuộc, lôi kéo cán bộ trong hệ thống công quyền bao che cho hoạt động phạm tội của chúng. Nó làm đảo lộn nhiều giá trị truyền thống, thậm chí đảo lộn cả chân lý thông thường; tình trạng trật từ, kỷ cương xã hội có sự nhũng nhiễu và mối quan hệ người - người nhiều khi trở nên dè dặt.
 

3.2 Dựa theo tiêu chí về mức độ tổ chức liên kết giữa các thành viên

Nhóm phạm tội được chia thành 3 loại:
+ Nhóm phạm tội có tổ chức liên kết đơn giản. Đây là  nhóm phạm tội   tổ chức thiếu chặt chẽ với số lượng thành viên không nhiều, không có “điều lệ” hoạt động một cách chính thức mà chủ yếu quan hệ với nhau theo quy ước đơn giản; không có sự phân chia thứ bậc một cách rõ ràng, chủ yếu sử dụng bạo lực hoạt động trắng trợn, lỏng lẻo, dễ bị tan rã khi một tên trong nhóm bị bắt hoặc bị truy đuổi hoặc giải tán ngay khi giải quyết xong một “phi vụ”. Từng nhóm loại này có nhiều mục đích khác nhau, nhưng chủ yếu       là chiếm đoạt tài sản. Chúng thường là những tên có tiền án tiền sự hoặc tính cách thô bạo côn đồ, trình độ văn hóa thấp, không có công ăn việc làm, hoặc làm lao động đơn giản, mức thu nhập thấp nên bần cùng sinh đạo tặc; một số khác đua đòi, nghiện ngập cờ bạc, ma túy,v.v... Ngay khi chiếm đoạt được sản phẩm chúng thường chia nhau theo “công lao” của mỗi thành viên hoặc sử dụng ngay cho những việc nhất thời: ăn chơi, cờ bạc, chích hút ma túy, chơi số đề, cá cược,v.v...
Tuy có cơ cấu tổ chức liên kết đơn giản nhưng chúng hoạt động trắng trợn và cũng gây ra những tội ác cực kỳ nghiêm trọng: giết người, cướp của, cố ý gây thương tích dẫn tới hậu quả nặng nề. Ví như các đối tượng gây ra vụ bắt cóc nhằm đòi tiền chuộc, nhưng sợ lộ đã giết hại dã man một lúc 5 phu tìm trầm ở Quảng Trị.
+ Loại thứ hai là nhóm phạm tội có tổ chức liên kết ở mức cao hoạt động theo kiểu “xã hội đen”. Đây là nhóm phạm tội hoạt động có tính chất bí mật, khép kín có mục tiêu hoạt động lâu dài, có cơ cấu tổ chức rõ ràng, chặt chẽ, bền vững với hai hoặc ba cấp, thiên về sử dụng bạo lực. Chúng thường tạo vỏ bọc hợp pháp, lợi dụng những cán bộ tha hóa biến chất để thực hiện và che giấu tội phạm hoặc để trốn tránh pháp luật khi cần thiết; gây án một cách kín đáo với nhiều hình thức che đậy khôn khéo.
 Cấp cầm đầu có thể là 1 hoặc 2, 3 tên, nhưng thường có một tên đứng đầu mà các đàn em gọi là thủ lĩnh, đại ca, băng trưởng,v.v... là tên có đầu óc tổ chức, có hiểu biết khá rộng (về luật pháp, về xã hội) và mối quan hệ rộng rãi trong xã hội, có quá khứ “oanh liệt” trong giới giang hồ hoặc các "thế giới ngầm". Cấp cầm đầu quyết định mọi hoạt động của tổ chức tội phạm này. Những tên này thường ít trực tiếp tham gia vào việc gây án, mà điều hành qua số chỉ huy. Sự “chỉ đạo” gián tiếp này ngày càng làm cho tên cầm đầu ít có nguy cơ bị sa lưới pháp luật.
Ở cấp chỉ huy, trong nhóm phạm tội lại chia thành nhiều tổ, nhóm nhỏ. Mỗi tổ, nhóm nhỏ lại có 1 hoặc 2 tên chỉ huy do thủ lĩnh trực tiếp chỉ định. Những tên này điều hành các hoạt động cụ thể của các tổ, nhóm nhỏ theo lệnh của “thủ lĩnh” và có trách nhiệm báo cáo cho thủ lĩnh về mọi hoạt động của thành viên trong nhóm, thu tiền kiếm được nộp cho chỉ huy. Trong các tổ chức tội phạm số tiền thu nhập (chúng gọi là trả lương) của cấp chỉ huy rất cao so với cấp tay chân. 
Các thành viên của tổ, nhóm nhỏ là những tên trực tiếp thực hành tội phạm, cũng như mọi nhiệm vụ do nhóm trưởng, tổ trưởng giao.
Nhóm phạm tội có tổ chức liên kết ở mức cao hoạt động theo kiểu “xã hội đen” thường hiện diện ở các thành phố và các tỉnh lớn có nền công nghiệp, dịch vụ và du lịch phát triển, những địa bàn có khai thác khoáng sản quý (vàng, đá quý) mà những người lao động tự do ở khắp nơi kéo đến đông để khai thác hoặc làm thuê.
Ở Việt Nam, trong những năm cuối của thế kỷ XX, tội phạm có tổ chức đã phát triển và diễn biến phức tạp. Đặc biệt, loại hình hoạt động theo kiểu "xã hội đen" đã xuất hiện ở một số tỉnh, thành phố. Điển hình là các băng: Phúc "Bồ", Khánh "Trắng" ở Hà Nội; Hùng "Bo", Tài "Lừa", Sáu "Râu" Tư Kiệt, Trương Văn Cam tại TP HCM; băng Dung "Hà" , Cu Nên ở Hải Phòng; băng Sơn Điều, Hà Khôi tại Nam Định...Hầu hết các nhóm này đều núp dưới danh nghĩa các tổ chức doanh nghiệp, đội bốc xếp, kinh doanh khách sạn, nhà hàng, v.v... để hoạt động phạm tội.
+ MAFIA là nhóm phạm tội có tổ chức liên kết ở mức rất cao, mang những đặc điểm như loại nhóm hoạt động xã hội đen, nhưng có đặc điểm khác biệt là thành viên của nó chui sâu leo cao vào bộ máy công quyền.
Các nhà nghiên cứu đã chia các loại thủ lĩnh của tổ chức tội phạm như sau  
Thủ lĩnh động viên - thường thực hiện chức năng cố vấn về kỹ thuật (hình sự), cố vấn luật pháp, cảnh báo trước cho các thành viên của tổ chức về độ nguy hiểm của các động thái hành động. Ngoài ra thủ lĩnh này cũng là một nhân cách mạnh về tâm lý, có khả năng củng cố tính kiên quyết của cấp dưới. 
Thủ lĩnh khởi xướng: Là thủ lĩnh có tính không ổn định trong tổ chức tội phạm, tính tích cực của thủ lĩnh này gắn liền với các chức năng về tổ chức, thường chúng là kẻ đề xướng các hướng hoạt động nhất định của tội phạm. 
Thủ lĩnh tổ chức: Nhân vật trung tâm của tổ chức tội phạm có tổ chức là thủ lĩnh tổ chức. Đó là một nhân cách có truyền thống tội phạm, đặc trưng bởi khuynh hướng chống xã hội cao nhất, tâm thế tội phạm ổn định, là kẻ không phải tìm kiếm các tình huống tội phạm phù hợp mà là kẻ tự mình tạo ra các tình huống đó bằng những hành động có định hướng.
Các chức năng chủ yếu mà thủ lĩnh thực hiện gồm có :
Hoạch định chuẩn bị và thực thi hành động tội phạm. 
Bảo đảm về mặt trí tuệ, hành vi tương tác của các thành viên.
Phân định vai giữa các thành viên.
Tiến hành đàm phán với thủ lĩnh của các tổ chức khác ở các đại bàn căn cứ tội phạm, phô trương kinh nghiệm tội phạm. 
Thành lập hệ thống hoạt động bí mật, phản gián, tình báo trong tổ chức. Nghiên cứu các điều kiện bên trong cũng như bên ngoài của hoạt động nhóm.
Tổ chức quan hệ với các nhân vật tham nhũng trong bộ máy chính quyền, bảo đảm sự che chở và thông tin.
Tiến hành hoạt động vô hiệu hóa các định hướng ổn định hoạt động của cơ quan bảo vệ pháp luật. 
Xây dựng quan hệ tối ưu với các cơ quan hải quan để bảo đảm hoạt động tội phạm diễn ra trên biên giới một cách linh hoạt.
Hoạt động trừng phạt đối với những kẻ không có lợi trong tổ chức. 
Hoạt động bạo lực đối với những người không tuân thủ yêu cầu của tổ chức tội phạm (bạo lực vật lý, thể xác, hăm dọa, sử dụng thuốc nổ, chất cháy…..).
Tổ chức tuyên truyền có tính đe doạ, trấn áp sự chống đối của nhân chứng và người bị hại.
Tổ chức các mối liên hệ ngược để kiểm soát có hiệu quả hoạt động của các thành viên.
Kích thích tính tích cực và hạn chế hoạt động tiêu cực của các thành viên.
Hình thành các nhóm chiến đấu, xây dựng truyền thống các hoạt động hung hãn.
Xây dựng hệ thống thông tin với những kẻ đưa tin.
Tổ chức các quan hệ kinh tế với các tổ chức thực hiện việc rửa tiền, hợp pháp hóa thu nhập, đầu tư vào doanh nghiệp hợp pháp.
Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật : văn phòng, ô tô, vũ khí, các phương tiện nghe nhìn.
Tiến hành tuyên truyền chống pháp luật, xây dựng các truyền thông, tâm thế, qui tắc của văn hóa tội phạm, phô trương các hình thức khen thưởng cũng như trừng phạt các thành viên nhóm tội phạm, sử dụng tiếng lóng, hình xâm và các biểu tượng bên ngoài để chứng tỏ việc tham gia vào các khuynh hướng tội phạm cũng như các thành tích công lao đối với tổ chức.