1.Năng lực chủ thể của pháp nhân

Pháp nhân tham gia vào các quan hệ pháp luật như là một chủ thể bình đẳng, độc lập với các chủ thể khác, cho nên pháp nhân phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Khác với năng lực chủ thể của cá nhân, năng lực pháp luật và năng lực hành vi của pháp nhân phát sinh đồng thời và tồn tại tương ứng cùng với thời điểm thành lập và đình chỉ pháp nhân. Đối với các pháp nhân theo quy định phải đăng ký hoạt động thì năng lực chủ thể phát sinh kể từ thời điểm đăng ký.

Mỗi một pháp nhân được thành lập đều có mục đích (lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận) và nhiệm vụ nhất định (sản xuất kinh doanh hay một nhiệm vụ xã hội khác). Bởi vậy, năng lực chủ thể của pháp nhân phải phù hợp với mục đích hoạt động của pháp nhân đó. Mục đích của pháp nhân được xác định bởi quyết định thành lập pháp nhân hoặc điều lệ của pháp nhân do cơ quan có thẩm quyền đã thành lập pháp nhân đó chuẩn y. Việc thay đổi mục đích hoạt động dẫn đến thay đổi năng lực chủ thể của pháp nhân. Năng lực chủ thể của pháp nhân là chuyên biệt, phù hợp với mục đích và lĩnh vực hoạt động của nó. Bởi vậy, các pháp nhân khác nhau có năng lực chủ thể khác nhau.

2. So sánh năng lực chủ thể pháp nhân và năng lực chủ thể cá nhân

Giống nhau:

– Cả năng lực chủ thể của pháp nhân và năng lực chủ thể của cá nhân đều có khả năng tham gia vào quan hệ pháp luật với tư cách là một chủ thể và tự mình thực hiện các quyền, nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ pháp luật đã tham gia.

– Cả hai đều có năng lực chủ thể được tạo thành bởi hai yếu tố là năng lực pháp luật dân sự tức là khả năng do pháp luật quy định và năng lực hành vi dân sự tức là khả năng tự có của chính chủ thể đó. Năng lực pháp luật và năng lực hành vi là hai yếu tố cần và đủ tạo nên năng lực chủ thể của cá nhân và pháp nhân, giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ, hợp nhất.

– Cả năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân và của cá nhân đều là tiền đề pháp lý để thực hiện năng lực hành vi nghĩa là phạm vi các quyền do pháp luật quy định cho cá nhân, pháp nhân chỉ có các quyền và thực hiện các quyền đã được pháp luật ghi nhận. Vì vậy, cá nhân và pháp nhân chỉ được thực hiện những hành vi nhất định trong trường hợp pháp luật cho phép và không cấm.

– Cả năng lực hành vi dân sự của pháp nhân và năng lực hành vi dân sự của cá nhân đều là ”phương tiện” để hiện thực hóa năng lực pháp luật. Điều này được lý giải bởi các quyền của cá nhân, pháp nhân được pháp luật ghi nhận chỉ trở thành hiện thực thành các quyền dân sự cụ thể nếu đã được chính chủ thể đó bằng khả năng hành vi của mình thực hiện.

Khác nhau:

Vấn đề cần phân biệt Pháp nhân Cá nhân
  Năng lực pháp luật – Có từ khi thành lập.
– Chấm dứt khi pháp nhân không còn tồn tại.
– Xác định trong quyết định thành lập, điều lệ của pháp nhân đó.
– Phụ thuộc vào từng pháp nhân.
– Có từ khi sinh ra.
– Chấm dứt khi chết (chỉ hạn chế nếu pháp luật có quy định).
– Xác định trong các văn bản pháp luật.
– Như nhau giữa các cá nhân.
  Năng lực hành vi – Khả năng hoạt động.
– Phụ thuộc vào năng lực pháp luật của từng pháp nhân.
– Có đồng thời với năng lực pháp luật.
– Chỉ không còn khi pháp nhân chấm dứt tồn tại.
– Khả năng thực hiện hành vi.
– Phụ thuộc vào mức độ nhận thức, trưởng thành của cá nhân.
– Chỉ có khi đạt độ tuổi nhất định.
– Có thể không còn khi cá nhân còn sống.

 

3.Quy định về hoạt động của pháp nhân theo Bộ luật dân sự 2015

Trách nhiệm dân sự của pháp nhân được quy định tại Điều 87 Bộ luật dân sự 2015 như sau:

– Pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân.

Pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự về nghĩa vụ do sáng lập viên hoặc đại diện của sáng lập viên xác lập, thực hiện để thành lập, đăng ký pháp nhân, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

– Pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình; không chịu trách nhiệm thay cho người của pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do người của pháp nhân xác lập, thực hiện không nhân danh pháp nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác.

So với Bộ luật dân sự , năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân không còn bị giới hạn trong nội dung: “phù hợp với mục đích hoạt động của mình” mà hướng tới quy định mở rộng hơn “năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác liên quan có liên quan”. Quy định này phù hợp với chính sách tạo điều kiện phát triển kinh tế của Nhà nước.

Bộ luật dân sự  quy định chung chung về thời điểm pháp nhân bắt đầu có năng lực pháp luật dân sự là khi pháp nhân được thành lập thì Bộ luật dân sự năm 2015 đã chỉ rõ những thời điểm, cụ thể: (1) Thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập; (ii) Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập; (ii) Đối với pháp nhân phải đăng ký hoạt động thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm ghi vào sổ đăng ký. Từ thời điểm phát sinh năng lực pháp luật dân sự, pháp nhân có các quyền và nghĩa vụ dân sự và có thể tham gia vào các quan hệ dân sự nói chung và giao dịch dân sự nói riêng.

– Người của pháp nhân không chịu trách nhiệm dân sự thay cho pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do pháp nhân xác lập, thực hiện, trừ trường hợp luật có quy định khác.

Khi pháp nhân giải thể, doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản thì chấm dứt tư cách chủ thể trong các quan hệ pháp luật, cho nên năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân chấm dứt kể từ thời điểm pháp nhân chấm dứt hoạt động.

4.Đại diện của pháp nhân được quy định BLDS 2015

Đại diện của pháp nhân có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền.

Pháp nhiên là sự cắn kết của một tập thể cá nhân hoặc pháp nhân khác nên không phải trong mọi hoạt động của pháp nhân đều có sự tham gia của tất cả các thành viên pháp nhân Hoạt động của pháp nhân thông qua vai trò của nhiều cá nhân khác nhau, trong đó cá nhân có vai trỏ trực tiếp quan trọng nhất là người đại diện của pháp nhân. Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (là người đại diện) nhân danh và Vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Người đại diện của pháp nhân bao gồm: người đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền Việc xác lập đại diện, phạm vi quyền và nghĩa vụ của người đại diện, việc chấm dứt đại diện của pháp nhân áp dụng các quy định tại Chương IX Phần thứ nhất của Bộ luật dân sự năm 2015.

Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân được xác định dựa trên các căn cứ sau đây:

+ Người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ (đối với những pháp nhân bắt buộc phải có điều lệ);

+ Người có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật;

+ Người do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án (Điều 37 BLDS năm 2015)

Một quy định đột phá trong Điều luật này so với Bộ luật dân sự  là thừa nhận một pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật và mỗi người đại diện có quyền đại diện cho pháp nhân theo ghi nhận trong điều lệ hay quyết định thành lập pháp nhân. Quy định này cũng tương thích với Điều 13 Luật doanh nghiệp . Pháp luật quy định pháp nhân có nhiều người đại diện nhằm tạo điều kiện cho pháp nhân thực hiện nhiệm vụ của pháp nhân được thuận lợi trong các giao dịch. trong sản xuất, kinh doanh.

Đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập giữa người đại diện theo pháp luật của pháp nhân với cả nhân, pháp nhân khác. Người đại diện theo ủy quyền của pháp nhân cũng nhân danh pháp nhân thực hiện những nhiệm vụ cụ thể do pháp nhân giao. Việc xác định quyền hạn, trách nhiệm của người đại diện theo ủy quyền được xác định dựa trên văn bản ủy quyền đã được ký kết.

Như vậy, mọi hoạt động của pháp nhân được thực hiện thông qua hành vi của người đại diện của pháp nhân. Đại diện của pháp nhân là người nhân danh pháp nhân tham gia các giao dịch vì lợi ích của pháp nhân đó. Người đại diện của pháp nhân do pháp luật hoặc Điều lệ của pháp nhân quy định và họ có thể ủy quyền lại cho người khác. Với tư cách là người đại diện của pháp nhân, hành vi của người đại diện vì lợi ích của pháp nhân và trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được pháp nhân giao là hành vi của pháp nhân mà người đó đại diện, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của pháp nhân chứ không phải của bản thân người đại diện. Ý chí của các thành viên pháp nhân được thể hiện thống nhất thông qua người đại diện.

5.Chấm dứt pháp nhân

Các trường hợp chấm dứt pháp nhân. Theo BLDS Điều 99 khoản 1, pháp nhân chấm dứt trong các trường hợp sau đây: - Hợp nhất, sáp nhập, chia, giải thể pháp nhân theo quy định tại các điều 94, 95, 96 và 98 của Bộ luật dân sự. - Bị tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản. Ta có hai lưu ý: - Lưu ý thứ nhất: dù luật không quy định, pháp nhân cũng chấm dứt trong trường hợp mục đích của pháp nhân đã đạt được, ngay nếu như thời hạn hoạt động của pháp nhân chưa hết; ví dụ: công ty được thành lập nhằm mục đích khai thác khoáng sản tại một khu vực có ranh giới được xác định rõ và nguồn khoáng sản đã cạn kiệt. - Lưu ý thứ hai: pháp nhân chỉ chấm dứt kể từ ngày kết thúc việc thanh toán tài sản theo quy định của pháp luật và (hoặc) theo điều lệ (nếu có). Thanh toán tài sản của pháp nhân. Pháp nhân không có người thừa kế như cá nhân. Khi pháp nhân chấm dứt, tài sản của pháp nhân được chuyển giao cho các chủ thể khác của quan hệ pháp luật tuỳ theo tính chất, đặc điểm của từng loại pháp nhân. - Các tài sản còn lại của pháp nhân công pháp và pháp nhân hỗn hợp được giao cho Nhà nước. Cần lưu ý rằng giải pháp này được áp dụng cả đối với các pháp nhân hình thành từ việc kết nhóm các cá nhân để xây dựng tổ chức thành viên của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa: một khi tổ chức hoàn thành vai trò lịch sử của mình và chấm dứt, tài sản còn lại của tổ chức không được chia cho các thành viên, mà trở thành tài sản thuộc sở hữu toàn dân và do Nhà nước quản lý. - Các tài sản còn lại của tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân được giao lại cho người đầu tư vốn vào tổ chức kinh tế. Tài sản của doanh nghiệp Nhà nước được Nhà nước thu hồi; tài sản của các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần được phân chia giữa các thành viên theo điều lệ hoặc, nếu điều lệ không có quy định, theo tỷ lệ vốn góp của các thành viên. - Các tài sản còn lại của các tổ chức chính trị xã hội- nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp không được phân chia cho các thành viên mà phải được giải quyết theo quy định của pháp luật (BLDS Ðiều 104 khoản 3). Các tài sản còn lại của quỹ xã hội, quỹ từ thiện cũng được giải quyết theo quy định của pháp luật chứ không được giao lại cho các thành viên sáng lập hoặc cho người thừa kế của họ (Ðiều 105 khoản 4).

Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập)