1. Khái niệm hợp đồng điện tử

Hợp đồng điện tử (Tiếng Anh là e-contracts hay on-line contracts) là một  loại hình cơ bản của giao dịch điện tử. Theo Điều 11 Luật Mẫu về Thương mại điện tử của UNCITRAL năm 1996 “Hợp đồng điện tử được hiểu là hợp đồng được hình thành thông qua việc sử dụng các phương tiện truyền dữ liệu”.
` Theo Ủy ban Kinh tế Châu âu của Liên hợp quốc (UNECE), hợp đồng điện tử là hợp đồng nhằm đáp ứng các yêu cầu của các đối tác thương mại điện tử. Hợp đồng bao gồm các điều khoản cơ bản có thể đảm bảo rằng một hay nhiều giao dịch thương mại điện tử, sau này có thể được ký kết giữa các đối tác thương mại trong khuôn khổ pháp lý cho phép. Hợp đồng điện tử nhằm đề cập tới mọi hình thức liên lạc điện tử có thể để ký kết các giao dịch thương mại điện tử 
Ở Việt Nam, hợp đồng điện tử là một thuật ngữ pháp lý mới, chính thức xuất hiện ở Việt Nam vào những năm 2005, sau khi Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua năm 2005. Mặc dù được xây dựng trên cơ sở tham khảo Luật mẫu về thương mại điện tử năm 1996 của UNCITRAL, nhưng khác với luật mẫu và pháp luật của nhiều nước trên thế giới, Luật giao dịch điện tử năm 2005 của Việt Nam đưa ra định nghĩa chính thức về hợp đồng điện tử tại Điều 33 như sau: “ Hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu”, trong đó thông điệp dữ liệu được hiểu là “ thông tin được tạo ra, gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử”. Thông điệp dữ liệu được thể hiện dưới hình thức: trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax, và các hình thức tương tự khác.
Nếu như pháp luật quốc tế và pháp luật trong nước đều không đưa ra định nghĩa chính thức về hợp đồng điện tử, thì ngược lại định nghĩa về hợp đồng điện tử được một số nhà nghiên cứu khoa học hoặc hoạt động thực tiễn pháp lý đưa ra trong các công trình nghiên cứu, bài viết hay hội thảo khoa học, trong đó:
Hoặc là “Hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu, hay nói cách khác là hợp đồng có sử dụng thông điệp dữ liệu”.. Đây là định nghĩa được đưa ra trong cuốn chuyên khảo Pháp luật về hợp đồng trong thương mại và đầu tư – những vấn đề pháp lý cơ bản do TS. Nguyễn Thị Dung chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành năm 2008.
Trong tạp chí Nhà nước và pháp luật số 8/2010, TS. Trần Văn Biên cũng đã phân tích, tìm hiểu và đưa ra khái niệm về hợp đồng điện tử “Tóm lại, nói đến hợp đồng điện tử là nói đến một phương thức thiết lập hợp đồng chứ không phải là một loại hợp đồng dựa trên một đối tượng cụ thể nào” .
Ngày nay người ta hiểu khái niệm hợp đồng điện tử thông thường là những hợp đồng được giao kết thông qua phương tiện điện tử mà trong đó internet đóng vai trò cơ bản và được coi là điều kiện tiên quyết. Như vậy, Luật giao dịch điện tử năm 2005 của Việt Nam định nghĩa hợp đồng điện tử theo cách khái quát. Sự liệt kê thường không bao giờ đầy đủ, cách định nghĩa này là hợp lý, nó dự liệu được tất cả các phương tiện điện tử được sử dụng để giao kết hợp đồng và giúp tránh khỏi sự lạc hậu trước sự phát triển của công nghệ thông tin, bởi rất có thể trong tương lai sẽ có thêm những phương tiện điện tử khác được phát minh, sáng chế mà được sử dụng làm phương tiện điện tử.
Qua những phân tích ở trên có thể kết luận hợp đồng điện tử là những hợp đồng được giao kết qua mạng Internet - phương tiện điện tử được sử dụng phổ biến và có tầm ảnh hưởng, chi phối nhất trong giao kết hợp đồng điện tử hiện nay.

2. Đặc điểm của hợp đồng điện tử

Xét về bản chất hợp đồng điện tử cũng có những đặc điểm chung cơ bản giống với hợp đồng truyền thống và đều phải tuân theo những quy định chung về giao kết hợp đồng được quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015.

2.1 Tham gia vào hợp đồng điện tử

có ít nhất hai bên (có thể là hai doanh nghiệp ký hợp đồng với nhau hoặc có thể là doanh nghiệp ký hợp đồng với người tiêu dùng).

2.2 Về cơ sở hình thành hợp đồng điện tử

cũng xuất phát từ sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấp dứt quyền và nghĩa vụ như các hình thức hợp đồng phổ biến mà chúng ta đang áp dụng, chỉ khác là chúng được xác lập thông qua phương tiện điện tử dưới dạng thông điệp dữ liệu. Dù là hợp đồng truyền thống hay hợp đồng điện tử, dù được giao kết bằng lời nói, hành vi, bằng văn bản hay bằng các phương tiện điện tử thì điều quan trọng là hợp đồng chỉ hình thành nếu các bên giao kết hoàn toàn tự nguyện, đạt được sự thỏa thuận rõ ràng, cụ thể về quyền và nghĩa vụ đối với nhau. Trong đó sự thống nhất và tự do ý chí giữa các bên – cơ sở triết học của hợp đồng là điều quan trọng nhất dù là loại hợp đồng gì.
Hợp đồng điện tử khi giao kết hay thực hiện đều phải tuân thủ những chuẩn mực chung nhất của hợp đồng nói chung liên quan tới hình thức của hợp đồng, chủ thể của hợp đồng, các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, chế độ trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng và giải quyết tranh chấp phát sinh nếu có.
Khi giao kết hợp đồng điện tử hay hợp đồng truyền thống các bên đều phải tuân thủ các nguyên tắc giao kết hợp đồng được quy định tại Bộ luật Dân sự đó là nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội và nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng.
Trong giao kết hợp đồng điện tử, việc trao đổi thông tin đa phần được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử và chính yếu tố kỹ thuật công nghệ này đã làm thay đổi cách thức, quy trình, thủ tục ký kết hợp đồng điện tử và hệ quả tiếp theo là làm thay đổi cách thức thực hiện hợp đồng điện tử và ít nhiều chi phối cả luật điều chỉnh. “Khía cạnh kỹ thuật làm cho quá trình giao kết hợp đồng điện tử phát sinh nhiều vấn đề chưa từng gặp trong giao kết hợp đồng bằng phương thức truyền thống và đây cũng chính là đặc điểm riêng của hợp đồng điện tử” [6, tr.24- 25]. Sự khác biệt này sẽ khiến cho hợp đồng điện tử mang một số tính riêng biệt cơ bản sau đây:

2.3 Về phương tiện ký kết

“Hợp đồng điện tử được ký kết thông qua các phương tiện điện tử và mạng viễn thông, điển hình là mạng Internet. Chính các công cụ này đã giúp mở rộng phạm vi ký kết hợp đồng điện tử ra khắp thế giới” [27, tr.19]. Đặc biệt là việc sử dụng mạng Internet trong quá trình ký kết hợp đồng điện tử đã giúp các bên có thể ký kết hợp đồng điện tử với mọi đối tác từ mọi nơi trên thế giới mà không bị rào cản về biên giới quốc gia hạn chế. Với hợp đồng truyền thống các bên sau khi gặp gỡ, trao đổi, thống nhất với nhau bằng các tài liệu giấy tờ và ký bằng tay. Hợp đồng điện tử thì lại có một phương thức giao kết khác, các bên sẽ không mất thời gian gặp gỡ, trao đổi và ký tay mà thực hiện việc giao kết trên các phương tiện điện tử và hợp đồng sẽ được ký bằng chữ ký điện tử.
Một thương nhân, dù ở đâu, ở từng địa phương trong một quốc gia hay ở phạm vi quốc tế, dù vào thời điểm nào cũng có thể giao dịch với đối tác của mình mà không có bất kỳ trở ngại nào. Tuy nhiên việc xác định vị trí, địa điểm, nơi mà thương nhân này tiến hành giao dịch trở nên khó khăn hơn so với hợp đồng truyền thống, thậm chí đôi khi là không thể thực hiện. Điều này sẽ dẫn đến rất nhiều các vấn đề pháp lý phức tạp khi phải xác định địa điểm giao kết hợp đồng, đặc biệt là khi giao kết với thương nhân nước ngoài.

2.4 Về chủ thể

Hợp đồng điện tử ngoài các chủ thể là người mua và người bán, thì khi giao kết hợp đồng điện tử còn có một chủ thể khác không kém phần quan trọng là các nhà cung cấp dịch vụ mạng và các cơ quan chứng thực chữ ký.

2.5 Về vấn đề nội dung hợp đồng

hợp đồng điện tử có một số điểm khác biệt với hợp đồng truyền thống như địa chỉ pháp lý, ngoài các địa chỉ pháp lý thông thường hợp đồng điện tử còn có địa chỉ e-mail, địa chỉ website, địa chỉ xác định nơi và ngày giờ gửi.
- Tính vô hình, phi vật chất: môi trường điện tử là môi trường số hóa, môi trường ảo, vì vậy các hợp đồng điện tử mang tính chất vô hình, nghĩa là hợp đồng điện tử được tồn tại, được chứng minh, được lưu trữ bởi các dữ liệu điện tử, điện từ chứ không nhận biết một cách vật chất được. Tính vô hình và phi vật chất này, khiến cho việc xác định một số yếu tố của hợp đồng trở nên khác, và khó khăn hơn so với hợp đồng bằng giấy truyền thống. Ví dụ như: vấn đề bản gốc, vấn đề chữ ký của hai bên, vấn đề bằng chứng của hợp đồng để làm cơ sở pháp lý khi tranh tụng trước tòa…
- Tính rủ ro: Phương thức giao kết hợp đồng điện tử cũng có nhiều rủi ro. Với sự phát triển nhanh chóng của thương mại điện tử, người ta cũng đang phải đối mặt với những rủi ro phát sinh từ việc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử mà nguyên nhân phát sinh rủi ro là do chính tính vô hình và tính hiện đại về mặt kỹ thuật của hợp đồng điện tử mang lại. Trong một môi trường ảo, đôi khi rất khó khăn để xác định năng lực pháp lý của đối tác giao kết hợp đồng, xác định xem đơn hàng trên internet là đơn hàng thật hay đơn hàng giả. Tính “vô hình” khiến cho việc lưu trữ hợp đồng nhằm đảm bảo bằng chúng về hợp đồng trong trường hợp xảy ra tranh chấp cũng là điều không đơn giản.
Làm thế nào để có một chữ ký điện tử đáng tin cậy? làm thế nào để bảo mật hợp đồng điện tử và chữ ký điện tử? làm thế nào để hạn chế rủi ro chống phá sự tấn công của các hacker… Đó là những câu hỏi làm đau đầu không chỉ các nhà kinh doanh mà còn cả những nhà làm luật khi giao dịch điện tử phát triển trên toàn thế giới.
Trên thực tế nhiều người đã phải chịu thiệt thòi do những rủi ro này mang lại. Nhiều khách hàng bị mất tiền do bảo mật thẻ tín dụng không tốt, nhiều doanh nghiệp không lấy được tiền hàng do hợp đồng bị giả mạo chữ ký điện tử, nhiều vụ tranh chấp rơi vào bế tắc khi cơ quan giải quyết tranh chấp không tìm được cơ sở pháp lý để bảo về quyền lợi của các bên có lợi ích bị xâm phạm v.v..

2.6 Luật điều chỉnh

Với tính đặc thù về mặt kỹ thuật công nghệ như đã phân tích, hợp đồng điện tử một mặt chịu sự điều chỉnh của các văn bản pháp luật về hợp đồng như Bộ Luật Dân sự năm 2015, mặt khác, việc ký kết và thực hiện hợp đồng điện tử còn cần phải tuân theo một quy đình và thủ tục đặc biệt nhằm phòng tránh rủi ro do chính yếu tố kỹ thuật đem lại. Vì vậy bên cạnh pháp luật về hợp đồng, hợp đồng điện tử còn chịu sự điều chỉnh của một số văn bản pháp luật riêng.
Đặc biệt là việc giao kết hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài, một vấn đề thường phát sinh khi nghiên cứu về nội dung pháp luật điều chỉnh việc giao kết hợp đồng điện tử nói riêng và hợp đồng nói chung. Vấn đề mấu chốt là ở chỗ, nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng cho phép các bên tham gia trong hợp đồng, dù là hợp đồng truyền thống hay hợp đồng điện tử, được quyền thỏa thuận, lựa chọn thống nhất luật áp dụng mà các bên cho là thích hợp để điều chỉnh hợp đồng của mình. Tuy nhiên, nếu các bên không thống nhất được vấn đề này, việc xác định luật nào sẽ áp dụng cho hợp đồng trở nên khó khăn. Với các hợp đồng được giao kết với các quốc gia khác nhau cũng vậy, mặc dù trong quan hệ hợp đồng không có ranh giới quốc gia, các giao dịch được tiến hành một cách phi biên giới. Song trên thực tế sẽ có những giao dịch mà chủ thể ở các nước khác nhau, và các chủ thể này có quốc tịch khác nhau với nơi họ cư trú hoặc có trụ sở.
Một giao dịch như vậy có thể được điều chỉnh bởi nhiều hệ thống luật khác nhau. Trong những trường hợp như vậy, việc xác định luật pháp của quốc gia nào điều chỉnh hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài là vấn đề hết sức phức tạp.
Rõ ràng những quy định về giao kết hợp đồng điện tử, không thể hoàn toàn giống những quy định về giao kết hợp đồng truyền thống. Chính vì vậy luật điều chỉnh hợp đồng điện tử trong đó có hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài sẽ phải có những điểm riêng biệt nhất định để điều chỉnh cho phù hợp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê