>> Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân về kết hôn trực tuyến, gọi:1900.6162

 

Luật sư tư vấn:

1. Thế nào là người hai quốc tịch?

Hai quốc tịch là trường hợp tình trạng pháp lý của người cùng một lúc có 02 quốc tịch và đây là tình trạng đặc biệt vì mỗi người sinh ra thường chỉ có 01 quốc tịch. Pháp luật của hai quốc gia đều công nhận người này là công dân của nước mình trên cơ sở cùng lúc họ sẽ được hưởng các quyền lợi và thực hiện nghĩa vụ công dân của cả hai quốc gia. Vấn đề công dân mang hai quốc tịch sẽ mang đến những trở ngại trong việc các nước thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với công dân và người mang hai quốc tịch cũng sẽ không đủ khả năng thực hiện toàn bộ các quyền và nghĩa vụ công dân đối với hai quốc gia mà họ mang quốc tịch.  

Thực tế việc công dân mang hai quốc tịch bắt nguồn từ nguyên nhân xuất phát từ chủ quyền của quốc gia đối với dân cư đồng thời gắn với các điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội làm xuất hiện xung đột về pháp luật giữa các quốc gia. hay do một cá nhân được hưởng quốc tịch mới nhưng lại không đương nhiên bị mất quốc tịch cũ - nguyên nhân này là do luật quốc tịch của nước đó không quy định về việc đương nhiên bị mất quốc tịch khi vào quốc tịch mới. Nguyên nhân người có hai quốc tịch cũng có thể do những thay đổi về điều kiện thực tế của cá nhân như những người có quốc tịch mới nhưng không bỏ quốc tịch cũ.

Theo đó thì những người hai quốc tịch sẽ được hưởng các quyền lợi kinh tế chính trị, lợi ích từ hai quốc gia mà họ là công dân - họ sẽ có thuận lợi trong việc xuất cảnh hay nhập cảnh cư trú, đi lại trên lãnh thổ các quốc gia mà người đó mang quốc tịch và cùng một lúc người đó được nhiều nước bảo hộ khi họ ở nước ngoài. Song hành với những lợi ích thì sẽ có những khó khăn đối với người hai quốc tịch. Một là sự khó khăn trong việc bảo hộ ngoại giao cho công dân; Hai là việc thực hiện nghĩa vụ quân sự của cá nhân đó sẽ gặp khó khăn, phát sinh ra tình trạng pháp lý khó khăn cho việc thực hiện chủ quyền quốc gia đối với công dân gây phức tạp cho mối quan hệ hợp tác giữa hai quốc gia. 

Theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành cụ thể là tại Điều 4 Luật quốc tịch năm 2008 thì Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam trừ các trường hợp mà Luật này có quy định khác. Do đó, công dân Việt Nam chỉ có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam nhưng vẫn sẽ có các trường hợp ngoại lệ khiến công dân có hai quốc tịch ví dụ như:

- Trường hợp đặc biệt xin nhập quốc tịch Việt Nam nhưng đồng thời xin giữ quốc tịch nước ngoài. Trong trường hợp này thì người đó phải đáp ứng các điều kiện: Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật Việt Nam; Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, tôn trọng truyền thống, phong tục, tập quán của dân tộc Việt Nam; Biết tiếng việt đủ để hòa nhập vào cộng đồng Việt Nam; Công dân đó còn cần đáp ứng điều kiện đã thường trú ở Việt Nam từ 05 năm trở lên tính đến thời điểm xin nhập quốc tịch Việt Nam và có khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam. Đồng thời người thuộc trường hợp đặc biệt này khi đáp ứng được các điều kiện thì phải trình Chủ tịch nước xem xét về việc nhập quốc tịch Việt nam mà không phải thôi quốc tịch nước ngoài. 

Người xin nhập quốc tịch Việt Nam có thể sẽ được nhập quốc tịch Việt Nam mà không cần đáp ứng các điều kiện trên nếu: Là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc là con đẻ của công dân Việt Nam; Có công lao động đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam; Hay trường hợp có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 

- Trường hợp hai là trường hợp đặc biệt xin trở lại quốc tịch Việt Nam đồng thời xin giữ quốc tịch nước ngoài. 

- Ngoài ra còn trường hợp trẻ em là công dân Việt nam được người nước ngoài nhận nuôi thì vẫn giữ quốc tịch Việt Nam kể từ ngày cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận việc nuôi con. 

 

2. Điều kiện để kết hôn ở Việt nam

Điều kiện kết hôn là việc đòi hỏi về mặt pháp lý của các cá nhân nam, nữ. Ở Việt Nam, theo quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì quy định kết hôn đáp ứng các điều kiện sau:

- Nam phải từ đủ 20 tuổi trở lên và nữ phải đáp ứng từ đủ 18 tuổi trở lên. Pháp luật quy định độ tuổi tối thiểu nam, nữ được phép kết hôn mà không quy định độ tuổi tối đa. Đây là quy định dựa trên điều kiện kinh tế - xã hội, phong tục, tập quán và truyền thống, văn hóa của dân tộc. 

- Việc kết hôn phải do nam, nữ tự nguyện quyết định và không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào, không ai được cưỡng ép hay cản trở; Tự nguyện trong hôn nhân trước hết phải thể hiện bằng ý chí chủ quan của người kết hôn. Hai bên nam, nữ nếu yêu thương và tự quyết định xác lập quan hệ hôn nhân nhằm mục đích xây dựng gia đình. Tự nguyện kết hôn có thể được thể hiện bằng dấu hiệu khách quan. Người kết hôn phải bày tỏ mong muốn được kết hôn với nhau trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông qua hành vi đăng ký kết hôn. Vì vậy khi đăng ký kết hôn sẽ cần có mặt của cả hai bên. Quyền kết hôn chính là quyền của mỗi cá nhân do đó thì việc kết hôn phải do cá nhân đó tự nguyện quyết định. Nhằm đảm bảo để quan hệ hôn nhân được xác lập phù hợp với lợi ích của người kết hôn là cơ sở để xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc và bền vững. 

- Các bên nam, nữ nếu như không thuộc các trường hợp cấp kết hôn. 

Như vậy thì khi đăng ký kết hôn thì nam nữ chưa đáp ứng được các điều kiện theo quy định của pháp luật thì cơ quan đăng ký kết hôn sẽ có quyền từ chối đăng ký kết hôn cho họ. Trong trường hợp nam, nữ đã được đăng ký kết hôn nhưng một trong các bên vi phạm các điều kiện, không đáp ứng các điều kiện thì việc kết hôn đó đã là trái pháp luật và Tòa án có quyền hủy bỏ, việc kết hôn trái pháp luật đó khi có yêu cầu. 

Đồng thời, nhà nước cũng không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính. Quy định này nhằm tôn trọng quy luật tự nhiên và nhằm làm ổn định quan hệ hôn nhân và gia đình. Nhà nước tuy không thừa nhận hôn nhân của hai người cùng giới tính nhưng không cấm hai người cùng giới tính chung sống với nhau. Và pháp luật cũng quy định trường hợp cấm kết hôn nhằm bảo vệ chế độ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ,  một vợ , một chồng, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam và góp phần duy trì, bảo vệ nòi giống thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Pháp luật quy định cấm kết hôn giả tạo; cấm trường hợp kết hôn đối với người đang có vợ, có chồng hoặc cấm người chưa có chồng, có vợ mà kết hôn với người có vợ, có chồng; cấm kết hôn giữa những người có dùng máu về trực hệ là những người có quan hệ huyết thống.  

 

3. Đăng ký kết hôn với người 2 quốc tịch như thế nào?

Thưa luật sư, Tôi xin trình bày trường hợp của tôi, mong Luật sư sẽ giúp đỡ: Tôi là nữ đã ly hôn và giấy ly hôn hợp pháp; Nay tôi muốn kết hôn với một người Việt đang sống ở Pháp và người đó có hai quốc tịch Việt Nam - Pháp. Tôi đăng ký kết hôn tại Việt Nam như hai người Việt Nam được không? Và sau đó tôi sang Pháp thì có phải làm thủ tục đăng ký kết hôn nữa hay không?

Trả lời:

Căn cứ quy định pháp luật tại Điều 13 Luật quốc tịch năm 2008 quy định về người có quốc tịch Việt Nam. Theo đó người có quốc tịch Việt Nam sẽ bao gồm người có quốc tịch Việt Nam bao gồm người đang có quốc tịch Việt Nam cho đến ngày Luật này có hiệu lực và người có quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật. Và người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam. Như vậy thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa mất quốc tịch Việt Nam mà không có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 11 thì sẽ đăng ký với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để được xác định có quốc tịch Việt Nam và cấp hộ chiếu Việt Nam. 

Do đó, trong trường hợp của bạn thì người mang hai quốc tịch mà bạn đang muốn kết hôn mà đang định cư tại nước Pháp nếu như chưa mất quốc tịch Việt Nam trước ngày 24/6/2014 (trước ngày Luật sửa đổi bổ sung Luật quốc tịch 2008 có hiệu lực) thì trong trường hợp của bạn việc kết hôn của hai bạn sẽ được tiến hành bình thường theo như quy định của pháp luật Việt Nam về thủ tục kết hôn giữa công dân Việt Nam với công dân Việt Nam. Như vậy, bạn sẽ tiến hành đăng ký kết hôn ở Việt Nam như bình thường và đương nhiên sẽ không phải đăng ký kết hôn ở Pháp.

Theo quy định của pháp luật thì khi một người nhập cảnh vào Việt Nam bằng hộ chiếu của nước nào thì người đó sẽ được đối xử như công dân của nước đó và sử dụng tư cách công dân khi muốn kết hôn với công dân Việt Nam tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam. Khi muốn đăng ký kết hôn với công dân Việt Nam tại Việt Nam thì sẽ phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam và phải cung cấp hồ sơ, giấy tờ chứng minh nhân thân, tình trạng hôn nhân theo quy định của pháp luật. Trường hợp mà công dân Việt Nam kết hôn với công dân có mang hai quốc tịch trong đó có quốc tịch Việt nam thì người mang hai quốc tịch đó vẫn là công dân Việt Nam. Và việc đăng ký kết hôn sẽ tiến hành bình thường như các công dân Việt Nam đăng ký kết hôn với nhau. 

 

4. Hồ sơ đăng ký kết hôn với người hai quốc tịch

Khi tiến hành đăng ký kết hôn với người hai quốc tịch thì cần chuẩn bị các hồ sơ sau:

- Tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu;

- Giấy tờ xác nhận tình trạng hôn nhân 

- Giấy xác nhận người đó không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không có khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của mình;

- Đối với công dân Việt Nam đã ly hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì người nước ngoài đã ly hôn với công dân Việt Nam tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì phải nộp giấy xác nhận ghi vào sổ hộ tịch việc ly hôn đã được giải quyết ở nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam;

- Bản sao sổ hộ khẩu, sổ tạm trú hoặc thẻ thường trú, thẻ tạm trú hoặc chứng nhận tạm trú. 

Ngoài ra còn các giấy tờ khác theo như pháp luật quy định.

Trên đây là tư vấn của công ty Luật Minh Khuê muốn gửi tới quý khách hàng. Nếu quý khách có bất kỳ vướng mắc hay câu hỏi pháp lý nào khác thì vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 24/7 qua số hotline: 1900.6162 để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc kịp thời. Xin trân trọng cảm ơn sự hợp tác của quý khách hàng!