1. Cách đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại Singapore

Theo luật Singapore, nhãn hiệu hàng hóa là bất cứ dấu hiệu, hình ảnh nào có thể phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ cùng loại của người khác và những dấu hiệu đó có thể bao gồm chữ cái, từ ngữ, tên gọi, chữ ký, chữ số, hình mẫu bao gói, nhãn hàng, hình mô phỏng, mầu sắc hoặc tổng hợp các yếu tố đó.

I. PHẦN CHUNG

Nhãn hiệu hàng hóa là gì?

Theo luật Singapore, nhãn hiệu hàng hóa là bất cứ dấu hiệu, hình ảnh nào có thể phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ cùng loại của người khác và những dấu hiệu đó có thể bao gồm chữ cái, từ ngữ, tên gọi, chữ ký, chữ số, hình mẫu bao gói, nhãn hàng, hình mô phỏng, mầu sắc hoặc tổng hợp các yếu tố đó.

Những dấu hiệu đó không được trùng hoặc gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã đăng ký trước liên quan đến hàng hóa/dịch vụ cùng loại, không gây nhầm lẫn với nhãn hiệu nổi tiếng, không được trái với pháp luật hoặc đạo đức xã hội, không chỉ dẫn sai nguồn gốc địa lý của hàng hóa.

Luật sư tư vấn bảo hộ nhãn hiệu quyền tại Việt Nam 0986.386.648


Những dấu hiệu nào không được đăng ký là nhãn hiệu hàng hóa?

+ Những dấu hiệu gây phản cảm đối với xã hội;

+ Những dấu hiệu có kèm theo những từ hoặc ám chỉ nghĩa tương tự với từ, cụm từ như “độc quyền” hoặc “đã bảo họ độc quyền”, “đã đăng ký”, “kiểu dáng đã đăng ký” hoặc “nhãn hiệu đã đăng ký”; “bản quyền tác giả”; “hàng nhái mẫu này là hàng giả”;

+ Những dấu hiệu tượng trưng cho Tổng thống Singapore;

+ Những dấu hiệu liên quan đến quân đoàn Anzac thời ký thế chiến thứ nhất.

+ Những dấu hiệu đặc trưng cho Chữ thập đỏ và chữ thập đỏ

+ Geneva như chữ thập có màu đỏ trên nền bạc hoặc nền trắng, chữ thập đỏ Liên bang Thụy sĩ…

+ Các biểu tượng như Quốc huy Cộng hòa Singapore, huy hiệu của quân đội Tổng thống, của Hoàng gia, huy hiệu và các hình vẽ biểu tượng gây nhầm lẫn với những dấu hiệu trên.

+ Các biểu tượng của Hoàng gia hoặc Hoàng đế như vương miện, hoặc cờ nước Cộng hòa hoặc cờ Hoàng gia, cờ Hoàng đế.

Quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa được xác lập trên cơ sở nào?

Nhãn hiệu hàng hóa được bảo hộ tại Singapore có thể xác lập thông qua đăng ký hoặc thông qua sử dụng.

Việc đăng ký nhãn hiệu hàng hóa tại Singapore là không bắt buộc. Tuy nhiên, đối với nhãn hiệu hàng hóa chưa đăng ký, việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa phải dựa trên thông luật về chống mạo danh- quá trình này sẽ tốn kém và chiếm nhiều thời gian hơn so với các biện pháp thực thi áp dụng đối với quá trình bảo hộ quyền đối với nhãn hiệu đã đăng ký.

Doanh nghiệp Việt Nam có thể xin hưởng quyền ưu tiên khi nộp đơn đăng ký nhãn hiệu ở Singapore không?

CÓ. Singapore là thành viên Công ước Paris nên doanh nghiệp Việt Nam có thể xin hưởng quyền ưu tiên theo Công ước Paris khi nộp đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hóa ở Singapore với điều kiện đơn phải được nộp ở Singapore cho cùng một nhãn hiệu và trong vòng 6 tháng kể từ ngày nộp đơn đầu tiên tại Việt Nam hoặc tại một trong các quốc gia thành viên Công ước Paris hoặc kể từ ngày hàng hóa mang nhãn hiệu được trưng bày tại một triển lãm quốc tế chính thức tại một trong các quốc gia thành viên.

Ngày nộp đơn tại Singapore sẽ được tính theo ngày nộp đơn đầu tiên hoặc ngày hàng hóa được trưng bày tại triển lãm quốc tế đó.

Có thể đăng ký nhãn hiệu hàng hóa vào Singapore theo Thỏa ước Madrid không?

KHÔNG. Singapore không phải là thành viên của Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa nên doanh nghiệp Việt Nam muốn đăng ký nhãn hiệu hàng hóa tại Singapore phải đăng ký theo hệ thống đăng ký quốc gia tại Cục sở hữu trí tuệ Singapore (tiếng Anh viết tắt là “IPOS”) hoặc đăng ký trực tuyến qua mạng internet.

Nộp đơn đăng ký nhãn hiệu ở Singapore có nhất thiết phải qua người đại diện không?

Luật qui định tại thời điểm nộp đơn, người nộp đơn phải nêu rõ địa chỉ của đại diện sở hữu công nghiệp hoặc địa chỉ ở Singapore để IPOS liên lạc. Trong thực tế, hầu hết chủ thể nước ngoài đều chỉ định một đại diện Singapore để tiến hành các thủ tục đăng ký tại Singapore.

Các tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp Việt Nam, ví dụ như Văn phòng luật sư Phạm & Liên Danh có thể giúp các cá nhân, doanh nghiệp Việt Nam trong việc liên lạc với đại diện sở hữu công nghiệp Singapore và tiến hành các thủ tục nộp đơn tại Singapore.

II. THỦ TỤC NỘP ĐƠN

Ai có thể nộp đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hóa?

Bất kỳ chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa nào sử dụng hoặc có ý định sử dụng nhãn hiệu hàng hóa đó đều có thể nộp đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hóa ở Singapore.

Nộp đơn đăng ký nhãn hiệu tại IPOS như thế nào?

Doanh nghiệp phải điền vào đơn theo mẫu TM 4 do IPOS ban hành.

Cùng với đơn, doanh nghiệp phải nộp lệ phí là 306 đô la Singapore (nếu đăng ký điện tử) hoặc 336 đô la Singapore (đăng ký thông thường) cho mỗi nhóm hàng hóa, dịch vụ. Người nộp đơn nước ngoài muốn đăng ký nhãn hiệu hàng hóa phải chỉ định trong đơn một đại diện Singapore có văn phòng và địa chỉ tại Singapore để IPOS liên hệ.

Doanh nghiệp có thể gửi trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện theo địa chỉ:

Registar of Trade Marks

Registry of Trade Marks


Intellectural Property Office of Singapore

51 Bras Basah Road

#4-01 Plaza By The Park

Singapore 189554

Trong trường hợp đăng ký điện tử, liên hệ với:

Mrs Ang-Ong Bee Liuan

Tel: (65) 6330 2710


Hoặc

Mr Wilfred Ban

Tel: (65) 6330 2718

Email: ipos_etrademarks@ipos.gov.sg

để được hướng dẫn. Ngoài ra, doanh nghiệp có thể tự tìm hiểu những vấn đề khác liên quan đến đăng ký nhãn hiệu theo địa chỉ trang web

http://www.ipos.gov.sg/newdesign/index.html

Khi nộp đơn phải cung cấp những thông tin cần thiết gì?
Đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hóa phải làm bằng tiếng Anh theo mẫu được IPOS phát hành. Trong trường hợp nộp đơn thôn thường thì các thông tin phải được đánh máy.

+ Nếu nhãn hiệu được đăng ký là nhãn hiệu hình thì phải mô tả nhãn hiệu.

+ Nếu nhãn hiệu xin đăng ký là nhãn hiệu 3 chiều, với một phần là bao bì sản phẩm thì phải mô tả nhãn hiệu theo các mặt nhãn hiệu. Nếu nhãn hiệu là nhãn hiệu mầu thì phải có 5 mẫu nhãn hiệu được đính kèm theo đơn đăng ký. Nếu từ ngữ dùng cho nhãn hiệu không phải là từ tiếng Anh hoặc chữ cái không phải chữ Latinh thì phải mô tả nhãn hiệu trong đó chỉ rõ tiếng nguyên gốc, phần dịch và phiên âm sang tiếng Anh các từ hoặc chữ cái đó.

+ Danh mục sản phẩm/dịch vụ mang nhãn hiệu và nhóm phân loại.

+ Tên, địa chỉ, quốc tịch của người nộp đơn.

+ Nếu doanh nghiệp nộp đơn thông qua đại diện thì cần ghi rõ tên, địa chỉ của đại diện ở Singapore.

Các tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp Việt Nam, ví dụ như Văn phòng luật sư Phạm & Liên Danh có thể giúp các doanh nghiệp liên lạc với đại diện Singapore và tiến hành các thủ tục nộp đơn cho các doanh nghiệp Việt Nam.

Có thể tìm Bảng phân loại quốc tế hàng hóa và dịch vụ ở đâu?

Singapore sử dụng bảng phân loại quốc tế hàng hóa và dịch vụ theo Thỏa ước Nice về Phân loại quốc tế Hàng hóa và Dịch vụ nhằm mục đích Đăng ký Nhãn hiệu hàng hóa. Bảng phân loại Nice có thể tìm thấy trên trang web của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO theo địa chỉ http://www.wipo.org, mục “About WIPO” của trang chủ, vào sâu tiếp trang “Treaties and Contracting parties”, vào tiếp trang “Classification treaties”, doanh nghiệp sẽ tìm thấy “Nice Agreement Concerning the International Classification on Goods and Services fỏ the Purpose for the Registration of Marks” hoặc tìm hiểu Bảng phân loại tại Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam.

Để đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, doanh nghiệp cần xác định chính xác nhóm sản phẩm hoặc dịch vụ theo bảng phân loại Nice.


Trong đơn đăng ký nhãn hiệu, doanh nghiệp phải đính kèm một danh mục tất cả những hàng hóa và dịch vụ mà nhãn hiệu dự định sử dụng. Việc phân nhóm sản phẩm có thể không chính xác và khi bị sửa đổi, doanh nghiệp phải trả phí bổ sung cho đơn như đã viết ở trên.

Lệ phí đăng ký nhãn hiệu hàng hóa ở Singapore là bao nhiêu?

Doanh nghiệp phải chịu chi phí chính thức theo bảng phí Nhà nước và chi phí dịch vụ cho đại diện sở hữu trí tuệ (nếu doanh nghiệp sử dụng dịch vụ). Tổng chi phí sẽ rất khác nhau theo từng trường hợp.

Phí cơ bản đối với đơn có thể bao gồm:

+ 306/336 đô la Singapore cho đơn theo mẫu TM4 đối với một nhóm hàng hóa/dịch vụ (tùy thuộc vào đăng ký điện tử hay đăng ký thông thường như đã đề cập ở trên)

+ Doanh nghiệp cũng có thể phải trả thêm phí như:

+ 40 đô la Singapore khi bổ sung đơn đối với đơn bị xét nghiệm viên sửa đổi.

+ 20-21 đô la Singapore khi bổ sung tên/địa chỉ của người nộp đơn (tùy thuộc vào đăng ký điện tử hay đăng ký thông thường).

+ 8-8,5 đô la Singapore khi thêm hoặc thay đổi địa chỉ dịch vụ (tùy thuộc vào đăng ký điện tử hay đăng ký thông thường)

Đơn nhãn hiệu được xử lý như thế nào, thời hạn là bao lâu?

IPOS sẽ xét nghiệm hình thức đơn nhãn hiệu. Sau khi đáp ứng yêu cầu về hình thức, nhãn hiệu sẽ được xét nghiệm về nội dung xem có đáp ứng tiêu chuẩn bảo hộ theo luật hay không.

Thời hạn xét nghiệm đơn thông thường trên 14 tháng kể từ ngày nộp đơn hợp lệ.

Những đơn đáp ứng tiêu chuẩn bảo hộ sẽ được công bố trên Công báo để bên thứ ba có thể phản đối và sau thời hạn công bố mà không có ai phản đối đơn hoặc nếu có nhưng kết quả cuối cùng cho thấy nhãn hiệu vẫn được bảo hộ thì IPOS sẽ cấp Giấy đăng ký cho nhãn hiệu.

Có thể khiếu nại quyết đinh của cơ quan đăng ký nhãn hiệu không?

CÓ. Nếu không bằng lòng với quyết định của cơ quan đăng ký nhãn hiệu, doanh nghiệp có thể khiếu nại theo trình tự lên người đứng đầu bộ phận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa Singapore.

III. THỜI HẠN HIỆU LỰC VÀ GIA HẠN ĐĂNG KÝ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA

Thời hạn hiệu lực của đăng ký nhãn hiệu hàng hóa là bao nhiêu năm?

Đăng ký nhãn hiệu hàng hóa ở Singapore có hiệu lực là 10 năm kể từ ngày nộp đơn và có thể được gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần 10 năm với điều kiện chủ sở hữu nộp đơn gia hạn và lệ phí duy trì hiệu lực đúng hạn.

Chủ sở hữu phải nộp đơn gia hạn hiệu lực đăng ký nhãn hiệu khi nào?

Trong vòng từ 2 đến 3 tháng trước khi hết hạn hiệu lực đăng ký nhãn hiệu, chủ sở hữu phải nộp đơn xin gia hạn hiệu lực đăng ký nhãn hiệu kèm theo lệ phí gia hạn. Lệ phí duy trì hiệu lực là 250 hoặc 270 đô la Singapore (tùy thuộc đăng ký điện tử hay đăng ký thông thường).

Nếu lệ phí duy trì hiệu lực không được trả đúng hạn thì đăn gký nhãn hiệu hàng hóa sẽ mất hiệu lực. Tuy nhiên, trong thời hạn 1 năm kể từ ngày hết hạn đăng ký, chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa có thể nộp lệ phí phục hồi hiệu lực bằng cách nộp đơn phục hồi hiệu lực kèm theo phí gia hạn và phí phục hồi hiệu lực là 150 đô la Singapore.

Để chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa cần phải làm gì?

Việc chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp đói với đơn nhãn hiệu đang trong thời gian xử lý đơn hoặc nhãn hiệu đang có hiệu lực phải được ghi nhận tại Cơ quan đăng ký thì mới có giá trị pháp lý. Đạo luật nhãn hiệu hàng hóa quy định chủ sở hữu mới có nghĩa vụ đăng ký việc chuyển nhượng. Việc sửa đổi tên chủ sở hữu được thực hiện kèm theo lệ phí 80 đô la Singapore.

Trong trường hợp ký hợp đồng li-xăng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa đã đăng ký, hợp đồng li-xăng cũng phải được đăng ký với cơ quan đăng ký kèm theo lệ phí là 60 đô la Singapore cho một nhãn hiệu.

Có thể thay đổi các thông tin/ chi tiết liên quan đến nhãn hiệu hàng hóa đã được đăng ký không?

CÓ. Việc sửa đổi có thể thực hiện bằng cách khai vào những mẫu đơn nhất định và nộp một khoản lệ phí tùy theo từng trường hợp.

+ Sửa đổi tên hoặc địa chỉ trong đăng ký: 20 hoặc 21 đôla Singapore

+ Sửa ngày tháng trong đăng bạ: 325 đôla Singapore

+ Hủy bỏ một phần nhóm hàng hóa/dịch vụ: 40 đôla Singapore

+ Chủ sở hữu muốn loại trừ một số nội dung quyền trong đăng ký thì phải nộp 35 đôla Singapore và phí tái quảng cáo 75 đôla Singapore.

Hiệu lực của đăng ký nhãn hiệu có thể bị hủy bỏ không?

CÓ. Bất cứ một ai quan tâm cũng có thể làm đơn yêu cầu xem xét lại hiệu lực của đăng ký nhãn hiệu hàng hóa. Đơn được nộp kèm theo lệ phí 400 đôla Singapore.

Đăng ký nhãn hiệu hàng hóa có thể bị hủy bỏ vì những lý do sau:

+ Nhãn hiệu không được sử dụng trong vòng 5 năm sau khi đăng ký;

+ Nhãn hiệu không được sử dụng trong vòng 5 năm liên tục mà không có lý do chính đáng;

+ Nhãn hiệu hàng hóa đã trở thành tên gọi thông thường của sản phẩm;

+ Nhãn hiệu hàng hóa được dùng theo cách thức gây nhầm lẫn cho công chúng về bản chất, chất lượng hàng hóa, về chỉ dẫn địa lý của hàng hóa/dịch vụ.

+ Nhãn hiệu hàng hóa cũng có thể bị hủy bỏ nếu vi phạm quy định Luật nhãn hiệu hàng hóa, vi phạm nhãn hiệu đã được bảo hộ trước, hoặc nhãn hiệu được đăng ký do nhầm lẫn hoặc mạo danh trong quá trình đăng ký.

Các bên quan tâm có thể yêu cầu hủy bỏ hiệu lực đăng ký nhãn hiệu trong vòng 7 năm kể từ ngày đăng ký có hiệu lực. Trong trường hợp nhãn hiệu được đăng ký trái với trật tự đạo đức xã hội thì thời hạn hủy bỏ nhãn hiệu không bị giới hạn.

IV. THỰC THI QUYỀN

Hành vi nào bị coi là xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa?

Hành vi sử dụng nhãn hiệu hàng hóa trùng hoặc tương tự đối với hàng hóa/dịch vụ cùng loại gây nhầm lẫn bị coi là hành vi xâm phạm quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa.


Việc sử dụng nhãn hiệu gây nhầm lẫn với nhãn hiệu nổi tiếng cũng bị coi là hành vi xâm phạm quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng.

Khi bị nhãn hiệu bị vi phạm chủ sở hữu phải làm gì?

Khi có dấu hiệu bị xâm phạm,chủ sở hữu có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền Singapore bảo vệ quyền của mình. Các biện pháp thực thi bao gồm các biện pháp hành chính, dân sự, hình sự và biện pháp kiểm soát biên giới.

Liên hệ sử dụng dịch vụ đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam:

Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi: CÔNG TY LUẬT TNHH MINH KHUÊ

Điện thoại yêu cầu dịch vụ luật sư tư vấn luật Sở hữu trí tuệ, gọi: 0986.386.648

Gửi thư tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ qua Email: lienhe@luatminhkhue.vn

LIÊN HỆ NGAY VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN HỖ TRỢ! Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ liên quan: Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại EU;

2. Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng ?

Khi nhắc đến những nhãn hiệu như Coca-Cola, Intel, Microsoft, Sony..., người tiêu dùng trong từng lĩnh vực sẽ biết rõ những nhãn hiệu này được dùng cho sản phẩm gì. Nhãn hiệu nổi tiếng (NHNT) là một trong những thành quả đầu tư và là một tài sản có giá trị rất lớn của các doanh nghiệp sở hữu nó, đôi khi, NHNT còn tạo ra thương hiệu cho mỗi quốc gia, mỗi vùng miền, vì vậy, việc bảo hộ NHNT đang là một vấn đề được rất nhiều các doanh nghiệp quan tâm và dày công xây dựng.

NHNT là một tài sản của các doanh nghiệp, vì vậy, để bảo hộ NHNT, pháp luật cũng có những quy định để bảo hộ tài sản đặc biệt này.

Dưới góc độ quốc tế, Điều 6BIS của Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp có quy định:

“... các nước thành viên Liên hiệp có trách nhiệm, theo chức năng quản lý nếu luật quốc gia cho phép điều đó, hoặc theo đề nghị của bên có liên quan, từ chối hoặc huỷ bỏ đăng ký, ngăn cấm việc sử dụng nhãn hiệu mà nhãn hiệu đó là sự sao chép, bắt chước, chuyển đổi, và có khả năng gây nhầm lẫn với các nhãn hiệu đã được cơ quan có thẩm quyền của nước đăng ký hoặc nước sử dụng coi là nhãn hiệu nổi tiếng tại nước đó như là nhãn hiệu thuộc về người được hưởng lợi thế của Công ước và sử dụng trên các loại hàng hoá giống hoặc tương tự. Những quy định này cũng được áp dụng trong trường hợp thành phần chủ yếu của nhãn hiệu là sự sao chép của bất kỳ nhãn hiệu nổi tiếng nào hoặc sự bắt chước có khả năng gây nhầm lẫn với nhãn hiệu trước đó...”

Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu độc quyền

Luật sư tư vấn Luật sở hữu Trí tuệ qua điện thoại (24/7) gọi số: 1900.6162

Theo quy định trên thì Công ước Paris không đưa ra bất kỳ một định nghĩa nào về NHNT. Công ước chỉ quy định nghĩa vụ của các nước thành viên phải có cơ chế bảo hộ NHNT chống lại việc vi phạm (sao chép, bắt chước, chuyển đổi, và có khả năng gây nhầm lẫn) của người thứ ba.

Việt Nam là thành viên của Công ước Paris từ năm 1994. Vì vậy, cũng như các thành viên khác Việt Nam đã và đang xây dựng cơ chế bảo hộ NHNT.

Tuy nhiên, phải đến tận năm 2001, tại Nghị định số 06/2001/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 63/NĐ-CP quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp thì vấn đề NHNT mới được quy định. Theo quy định tại Điểm 8b, Điều 2 của Nghị định này thì NHNT được quy định như sau:

“...Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu hàng hoá được sử dụng liên tục cho sản phẩm, dịch vụ có uy tín khiến cho nhãn hiệu được biết đến một cách rộng rãi...”.

Quy định này đã nội luật hoá các quy định của điều ước quốc tế vào các văn bản pháp luật Việt Nam đồng thời cũng đánh dấu một bước tiến trong quá trình xây dựng các quy phạm pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và NHNT nói riêng. Tuy nhiên, Nghị định nêu trên chỉ đưa ra các tiêu chí xác định NHNT. Điều này đã gây những khó khăn cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu chứng nhận NHNT.

Theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 27 Nghị định nêu trên, thì vấn đề xác lập quyền sở hữu NHNT được quy định như sau:

“...Người nộp đơn yêu cầu công nhận NHNT có quyền khiếu nại với Cục trưởng Cục Sở hữu công nghiệp về việc từ chối công nhận NHNT...”.

Theo quy định này thì có thể hiểu là việc xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với NHNT sẽ được tiến hành bằng con đường hành chính, khi các tổ chức, cá nhân nộp đơn yêu cầu công nhận NHNT và có các bằng chứng chứng minh thì Cục trưởng Cục Sở hữu công nghiệp (nay là Cục Sở hữu trí tuệ (Cục SHTT)) sẽ xem xét và ra quyết định công nhận NHNT. Các tổ chức, cá nhân đã hy vọng sẽ có một Thông tư hướng dẫn nghị định 06 trong đó quy định về các tiêu chí công nhận NHNT đồng thời quy định trình tự, thủ tục, ra quyết định công nhận. Tuy nhiên, trong suốt quá trình thực hiện Nghị định 06 từ năm 2001 đến khi Luật sở hữu trí tuệ ra đời và có hiệu lực vào ngày 01/07/2006, đã không có bất cứ một Thông tư nào ra đời, đồng nghĩa với việc không có bất kỳ một NHNT nào được công nhận bằng quyết định của Cục SHTT.

Trên thực tế, việc công nhận NHNT chỉ được thực hiện theo từng vụ việc, một cách gián tiếp, ví dụ như khi có yêu cầu phản đối đơn đăng ký nhãn hiệu hay huỷ bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu dựa trên cơ sở một NHNT. Một trong những ví dụ điển hình nhất là trường hợp của Công ty liên doanh Thuỷ Tạ-Ophix, công ty này đã tiến hành đăng ký 02 nhãn hiệu tại Việt Nam là nhãn hiệu MCDONALD’S và nhãn hiệu PIZZA HUT. Đối với nhãn hiệu MCDONALD’S, Cục SHCN (nay là Cục SHTT) đã từ chối đăng ký cho nhãn hiệu này vị đây là NHNT mặc dù tại thời điểm đó, nhãn hiệu này chưa được đăng ký tại Việt Nam. Đối với nhãn hiệu PIZZA HUT, do tại thời điểm đó, nhãn hiệu này chưa được đăng ký tại Việt Nam, đồng thời Cục SHCN cũng không có thông tin về nhãn hiệu này, vì vậy Cục đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá cho Công ty Liên doanh Thuỷ Tạ-Ophix. Tuy nhiên công ty Domino’s Pizza đã tiến hành khiếu nại, yêu cầu huỷ bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu nêu trên vì nhãn hiệu này là một NHNT trên toàn thế giới thuộc quyền sở hữu của Công ty Domino’s Pizza. Sau đó Cục SHTT đã ra quyết định huỷ bỏ hiệu lực của Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đã cấp cho Công ty Liên doanh Thuỷ Tạ-Ophix. Đây có thể được coi là một trong những tranh chấp điển hình nảy sinh trong quá trình xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với NHNT tại Việt Nam.

Có thể khẳng định, rằng việc xác lập quyền và thực thi quyền đối với NHNT trước khi có Luật sở hữu trí tuệ ra đời (Luật SHTT) là không hiệu quả do việc không nhất quán giữa các quy trình của pháp luật và quá trình thực thi. Bên cạnh đó, trong quá trình xét nghiệm đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hoá, xét nghiệm viên đã không lấy ra các yếu tố của một nhãn hiệu nổi tiếng để làm đối chứng cho các nhãn hiệu sau. Một ví dụ điển hình là các nhãn hiệu mang chữ CK của Công ty Calvin Klein là các NHNT, tuy nhiên cũng đã có rất nhiều nhãn hiệu mang chữ CK của các chử sở hữu khác đã được đăng ký. Điều này đã gây ra các bất lợi cho các tổ chức, cá nhân có NHNT.

Để khắc phục các nhược điểm nêu trên, Luật Sở hữu Trí tuệ ra đời có quy định mới liên quan đến NHNT và đưa ra các tiêu chí công nhận NHNT. Theo quy định tại điểm 20, Điều 4 Luật SHTT thì NHNT được định nghĩa như sau:

“NHNT là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam”.

Quy đinh nêu trên đã khắc phục được nhược điểm của đinh nghĩa NHNT trong Nghị định 06, thứ nhất định nghĩa này đã đưa ra phạm vi nổi tiếng, có nghĩa là trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Việc quy đinh vi phạm này sẽ rút ra một hệ quả, nếu một nhãn hiệu rất nổi tiếng trên thế giới, tuy nhiên nếu người tiêu dùng Viêt Nam không biết đến, thì nhãn hiệu này sẽ không được coi là nổi tiếng theo quy định của pháp luật Việt Nam. Bên cạnh đó để khắc phục sự thiếu sót của Nghị định 06, lần đầu tiên Luật đã đưa ra các tiêu chí để công nhận một NHNT, Điều 75 quy định các tiêu chí sau khi xem xét khi đánh giá một NHNT là :

“....

1. Số lượng người tiêu dùng liên quan đến nhãn hiệu thông qua việc mua bán, sử dụng hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc thông qua quảng cáo;

2. Phạm vi lãnh thổ mà hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu đã được lưu hành.

3. Doanh số từ việc bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc số lượng hàng hoá đã được bán ra, lượng dịch vụ đã được cung cấp;

4. Thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu

5. Uy tín rộng rãi của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu

6. Số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu

7. Số lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu nổi tiếng

8. Giá chuyển nhượng, giá chuyển giao quyền sử dụng, giá trị góp vốn đầu tư của nhãn hiệu.

...”

Trên đây là những tiêu chí để được xem xét khi đánh giá một NHNT, có thể khẳng định đây là một bước tiến trong việc quy định pháp luật về NHNT. Các quy định này là những quy định mới, dựa vào các tiêu chí này các tổ chức, cá nhân sẽ thu thập các chứng cứ liên quan đến quá trình sử dụng của nhãn hiệu để yêu cầu các cơ quan chức năng xem xét, đánh giá. Cũng cần phải lưu ý rằng, ngoài các tiêu chí nêu trên, nếu tổ chức, cá nhân có các chứng cứ khác, có thể cung cấp để yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét, đánh giá NHNT.

Tuy nhiên qua xem xét các tiêu chí nêu trên, chúng ta cũng có thể dễ dàng nhận thấy rất nhiều các quy định mang tính chất định lượng, ví dụ như số lượng các quốc gia, số lượng người tiêu dùng...Vấn đề đặt ra ở đây là khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét một nhãn hiệu có phải là nổi tiếng không thì các tổ chức, cá nhân cần phải cung cấp số lượng bao nhiêu quốc gia mà nhãn hiệu đã được đăng ký, 30, 50 hay 70, vấn đề tương tự cũng đặt ra đối với số lượng người tiêu dùng. Nếu ở các quốc gia khác theo hệ thống luật Anh Mỹ, thì những quy định này thường được áp dụng dựa vào án lệ. Tuy nhiên, do đặc thù của hệ thông luật Việt Nam, không thừa nhận án lệ như một nguồn gốc của luật. Vì vậy, cấp độ Thông tư điều chỉnh về vấn đề này để dễ dàng trong qua trình áp dụng thống nhất pháp luật.

Bên cạnh đó, có sự mâu thuẫn giữa quy định trong điểm 6 điều 75 về số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu và quy định tại điểm 20, Điều 4, Luật SHTT. Định nghĩa tại điều 4 chỉ yêu cầu NHNT chỉ cần được người tiêu dùng biến đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam trong khi tiêu chí công nhận lại nêu số lượng quốc gia.

Vấn đề xác lập quyền đối với NHNT được quy định tại khoản 2, điều 6 của Nghị định 103/CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về sở hữu công nghiệp, theo quy định tại điều này thì quyền sở hữu công nghiệp đối với NHNT được xác lập trên cở sở thực tiễn sử dụng rộng rãi nhãn hiệu đó theo quy định tại Điều 75 của Luật SHTT mà không cần thực hiện thủ tục đăng ký.

Việc quy định về việc xác lập quyền như trên là phù hợp với thực tiễn quốc tế về NHNT. Theo quy định của luật pháp Hoa Ký cũng như pháp luật của hầu hết các quốc gia thì NHNT cũng không cần phải xác lập quyền bằng thủ tục đăng ký mà sẽ xác lập trên cở sở thực tiễn sử dụng. Tiêu chí thực tiễn sử dụng là một tiêu chí quan trọng nhất để một nhãn hiệu được công nhận là một NHNT. Chính nhờ quá trình sử dụng liên tục mà nhãn hiệu mới được người tiêu dùng biết đến. Nếu luật các quốc gia có quy định việc đăng ký cũng như công nhận của một cơ quan sở hữu trí tuệ là điều kiện để xác lập quyền đối với một NHNT là điều không hợp lý. Bởi vì việc công nhận hoặc đăng ký sẽ tạo ra một nhãn hiệu bất biến, trái với nguyên tắc sử dụng liên tục của nhãn hiệu. Trước đây, đã có một số cơ quan sở hữu trí tuệ quốc gia yêu cầu WIPO tiến hành nhận đơn công nhận NHNT, tuy nhiên, WIPO đã từ chối với lý do nêu trên.

Việc quy định việc xác lập quyền đối với NHNT theo quy định trên, chúng ta có thể rút ra các kết luận sau:

- Thứ nhất: Sẽ chỉ có hai cơ quan tiến hành xem xét và công nhận một nhãn hiệu là nổi tiếng, đó là Toà án và Cục SHTT.

- Thứ hai: Cục SHTT và Toà án sẽ chỉ xem xét và công nhận một NHNT khi có yêu cầu của các tổ chức, cá nhân theo từng vụ việc cụ thể. Cục SHTT sẽ không nhận đơn đăng ký cũng như đơn đề nghị công nhận NHNT. Vì vậy, sẽ không tồn tại, một đăng bạ quốc gia nào về NHNT.

- Thứ ba: Yêu cầu xem xét NHNT có thể diễn ra trong các trường hợp sau:

+ Khi tổ chức, cá nhân tiến hành nộp đơn đăng ký, nhưng bị từ chối vì nhãn hiệu rơi vào các yếu tố loại trừ hoặc bị từ chối vì tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác, tổ chức, cá nhân sẽ xác lập quyền cho nhãn hiệu này thông qua việc chứng minh NHNT.

+ Khi các tổ chức, cá nhân yêu cầu huỷ bỏ hiệu lực một văn bằng bảo hộ hoặc phản đối việc cấp giấy chứng nhận đăng ký cho một nhãn hiệu dựa trên cơ sở nhãn hiệu tương tự gây nhầm lẫn với NHNT.

+ Khi có các tổ chức, cá nhân yêu cầu xử lý vi phạm quyền sở hữu công nghiệp liên quan đến NHNT.

+ Khi có các tổ chức, cá nhân yêu cầu xử lý về hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến NHNT.

Trên đây là những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về cơ chế bảo hộ NHNT. Các doanh nghiệp có thể căn cứ vào những quy định để có chiến lược đầu tư xây dựng các NHNT nhằm góp phần đưa hàng hoá Việt Nam chiếm lĩnh thì phần trong nước và thị trường xuất khẩu.

Liên hệ sử dụng dịch vụ đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam:

Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi: CÔNG TY LUẬT TNHH MINH KHUÊ

Điện thoại yêu cầu dịch vụ luật sư tư vấn luật Sở hữu trí tuệ, gọi: 1900.6162

Gửi thư tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ qua Email: lienhe@luatminhkhue.vn

Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng! Trân trọng./.

3. Thời hạn bảo hộ nhãn hiệu là bao lâu ?

Thưa luật sư, Xin hỏi thời hạn bảo hộ đối với một nhãn hiệu là bao lâu ? Có thể gia hạn thời gian bảo hộ được không ? Thủ tục đăng ký và gia hạn được quy định như thế nào ? Cảm ơn!

Trả lời:

Căn cứ theo quy định tại Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN hồ sơ đăng ký nhãn hiệu gồm những giấy tờ sau:

+ Tờ khai đăng ký nhãn hiệu (2 bản): theo mẫu 04-NH quy định tại Phụ lục A TT 01/2007/TT-BKHCN; Mẫu đơn đăng ký

+ 09 mẫu nhãn hiệu giống nhau: Mẫu nhãn hiệu phải được trình bày rõ ràng với kích thước của mỗi thành phần trong nhãn hiệu không lớn hơn 80mm và không nhỏ hơn 8mm, tổng thể nhãn hiệu phải được trình bày trong khuôn mẫu nhãn hiệu có kích thước 80mm x 80mm in trên tờ khai;

+ Giấy đăng ký kinh doanh (bản sao), hợp đồng hoặc tài liệu khác xác nhận hoạt động sản xuất sản phẩm, cung cấp dịch vụ của người nộp đơn nếu Cục sở hữu trí tuệ có nghi ngờ về tính xác thực của các thông tin nêu trong đơn;

+ Chứng từ nộp phí, lệ phí

Bạn chuẩn bị đầy đủ các giấy tờ trên và có thể nộp trực tiếp tại Cục sở hữu trí tuệ.

+ Về thời hạn bảo hộ nhãn hiệu

Căn cứ vào Khoản 6 Điều 93 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định về hiệu lực của văn bằng bảo hộ như sau:

6. Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có hiệu lực từ ngày cấp đến hết mười năm kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần mười năm

Thời hạn bảo hộ của nhãn hiệu là 10 năm, tuy nhiên bạn có thể xin gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần 10 năm. Vì vậy, nếu bạn thực hiện gia hạn đúng hạn và nộp đầy đủ chi phí gia hạn thì nhãn hiệu của bạn có thể được bảo hộ mãi mãi.

+ Về Thủ tục gia hạn Văn bằng bảo hộ nhãn hiệu

Theo quy định tạiThông tư số 01/207/TT-BKHCN quy định về hồ sơ xin gia hạn Văn bằng bảo hộ nhãn hiệu gồm những giấy tờ như sau:

+ Tờ khai yêu cầu gia hạn hiệu lực văn bằng bảo hộ, làm theo mẫu 02-GHVB quy định tại Phụ lục C của Thông tư 01/2007/TT-BKHCN; Tờ khai gia hạn văn bằng bảo hộ;

+ Bản gốc Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu (trường hợp yêu cầu ghi nhận việc gia hạn vào Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu);

+ Giấy uỷ quyền (trường hợp nộp đơn thông qua đại diện);

+ Chứng từ nộp lệ phí gia hạn, công bố quyết định gia hạn và đăng bạ quyết định gia hạn Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu theo quy định.

Để được gia hạn hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, trong vòng 06 tháng trước ngày Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hết hiệu lực, bạn phải nộp đơn yêu cầu gia hạn cho Cục Sở hữu trí tuệ.

Đơn yêu cầu gia hạn có thể nộp muộn hơn thời hạn quy định nêu trên nhưng không được quá 06 tháng kể từ ngày Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hết hiệu lực và bạn phải nộp lệ phí gia hạn cộng với 10% lệ phí gia hạn cho mỗi tháng nộp muộn.

Mọi vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay tới số: 0986.386.648 để được giải đáp. Trân trọng./.

4. Cách đăng ký bảo hộ nhãn hiệu với sản phẩm điện, cáp điện

Trước khi nghĩ đến việc đăng ký bảo hộ thành công một nhãn hiệu tại các quốc gia khác, điều đầu tiên nên làm là tiến hành ngay việc bảo hộ nhãn hiệu tại chính thị trường Việt Nam. Công ty Luật Minh Khuê là đối tác tin cậy trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói riêng và các dịch vụ pháp lý trong các lĩnh vực khác nói chung với tiêu chí trung thực, uy tín và chất lượng.
Chúng tôi giới thiệu một mẫu nhãn hiệu do Luật Minh Khuê tư vấn và bảo hộ thành công để Quý khách hàng tham khảo và áp dụng:

1. Thông tin chủ đơn:

Tên đầy đủ: CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN DÂY VÀ CÁP ĐIỆN ĐẠI THANH

Địa chỉ: Thôn Yên Phú, xã Liên Ninh, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, Việt Nam,

2. Thông tin nhãn hiệu:

- Mẫu nhãn hiệu:

LEESSUNG

- Mô tả nhãn hiệu:

Màu sắc: Màu đen

Mô tả: Nhãn hiệu bao gồm phần chữ trên nền màu trắng.

Phần chữ: Là phần chữ "LEESSUNG" có màu đen được viết in hoa và in đậm. Chữ "LEESSUNG" không có nghĩa.

Nhãn hiệu đăng kí bảo hộ tổng thể.

- Danh mục và phân loại hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu:

Nhóm 09: Cuộn dây điện từ; Cuộn dây điện; Dây điện; Dây cáp điện; Cáp điện; Vỏ bọc ngoài nhận dạng cho dây điện.

- Số đơn: 4-2018-32343

Quý khách hàng có nhu cầu đăng ký bảo hộ độc quyền nhãn hiệu hàng hóa vui lòng liên hệ trực tiếp với Chúng tôi để được tư vấn!

Dịch vụ đăng ký nhãn hiệu độc quyền.

Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi:

CÔNG TY LUẬT TNHH MINH KHUÊ

Điện thoại yêu cầu dịch vụ luật sư tư vấn luật Sở hữu trí tuệ: 0986.386.648

Gửi thư tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ qua Email: lienhe@luatminhkhue.vn

Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!

Trân trọng./.

Lê Thủy - Chuyên viên Phòng Sở hữu trí tuệ - Công ty luật Minh Khuê