1. Đảng viên tự mình sinh và nuôi con được không?
>> Tư vấn về quyền tự mình sinh con, gọi: 1900.6162
Trả lời:
Trường hợp 1: Bạn đã ly hôn và có con ngoài giá thú với người độc thân khác:
Theo quy định của pháp luật thì không cấm hai người độc thân có con ngoài giá thú với nhau.
Theo quy định về mặt Đảng: Hướng dẫn 03-HD/UBKTTW, ngày 15 tháng 3 năm 2012 hướng dẫn thực hiện Quy định số 47-QĐ/TW, ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm, tại Khoản 8 Điều 17 có quy định:
“Đảng viên không được:...
8- Chưa có vợ, có chồng, đang có vợ, có chồng mà sống chung hoặc quan hệ như vợ chồng với người khác.”
Như vậy, Đảng viên cho dù đã có vợ, chồng hoặc chưa có vợ chồng đều không được sống chung hoặc có quan hệ như vợ chồng với người khác.
Tuy nhiên, hiện nay, theo Quyết định 181/QĐ-TW ngày 30/3/2013 về xử lý kỷ luật Đảng viên vi phạm thì chưa quy định xử lý kỷ luật trong trường hợp Đảng viên độc thân sống chung hoặc có con ngoài giá thú với người độc thân khác.
Trường hợp 2: Bạn đã ly hôn và có con ngoài giá thú với người đang trong thời kỳ hôn nhân với người khác (người đang có gia đình)
Trong trường hợp bạn có con ngoài giá thú do vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng (cha/mẹ của cháu bé đang trong thời kỳ hôn nhân với người khác) thì theo quy định pháp luật, tùy theo mức độ, hậu quả gây ra, bạn có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự (căn cứ Khoản 1 Điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 và Điều 147 Bộ luật Hình sự).
Về xử phạt vi phạm hành chính: theo quy định tại Khoản 1 Điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 thì người nào đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.
Về xử lý trách nhiệm hình sự: căn cứ Điều 147 Bộ luật hình sự thì:
“Điều 147. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng
1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.
2. Phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.
Về mặt tư cách Đảng viên: nếu đảng viên có hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng thì người vi phạm bị xử lý kỷ luật bằng hình thức khai trừ khỏi Đảng theo Khoản 3 Điều 23 Quyết định 181/QĐ-TW ngày 30/3/2013 xử lý kỷ luật Đảng viên vi phạm.
Trường hợp 3: Bạn không muốn không muốn kết hôn, mong muốn sống đơn thân nhưng vẫn muốn có con.
Theo quy định tại Nghị định 12/2003/NĐ-CP của Chính phủ về sinh con theo phương pháp khoa học chúng ta có thể lựa chọn giải pháp sinh con theo phương pháp khoa học. Nếu bạn có con với một người khác không theo phương pháp trên thì đó được coi là con ngoài thời kỳ hôn nhân của bạn. Điều đó pháp luật cũng không ngăn cấm.
Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi: CÔNG TY LUẬT TNHH MINH KHUÊ
Tổng đài tư vấn luật hôn nhân gia đình trực tuyến 24/7, gọi: 1900.6162
Gửi thư tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ qua Email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email
2. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con khi nam nữ không đăng ký kết hôn?
Luật sư tư vấn:
Nghĩa vụ của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được quy định tại Điều 14, 15, 16 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:
"Điều 14. Giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.
2. Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.
"Điều 15. Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con."
"Điều 16. Giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
1. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập."
Như vậy, dù không đăng ký kết hôn nhưng hai bạn vẫn có quyền, nghĩa vụ theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con. Vấn đề này được quy định tại Mục I Chương V Luật hôn nhân và gia đình, trong đó có nghĩa vụ cấp dưỡng. Như vậy, nếu hai bên không thỏa thuận được về vấn đề cấp dưỡng nuôi con khi không đăng ký kết hôn thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết.
>> Tham khảo bài viết liên quan: Mẫu bản kiểm điểm Đảng viên sinh con thứ 3 mới nhất
3. Tư vấn về vấn đề cấp dưỡng nuôi con?
>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162
Trả lời:
Khoản 24 Điều 3 Luật Hôn nhân gia đình 2014 quy định: "Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật này"
Khoản 2 Điều 82 cũng quy định rõ "Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con".
Như vậy, chồng cũ của bạn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng (đóng góp tiền hoặc tài sản khác) để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của bạn và con bạn. Bên cạnh đó, Điều 83 cũng chỉ ra rằng "Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này", bạn có quyền yêu cầu chồng cũ của bạn thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng mà chồng cũ của bạn đang trốn tránh không thực hiện
Chồng cũ của bạn không cấp dưỡng cho con từ tháng 6/2015 như vậy bạn có quyền yêu cầu Tòa án buộc chồng cũ thực hiện nghĩa vụ của mình. Vấn đề này được quy định cụ thể tại Điều Khoản 2 Điều 107 và Điều 119 của Luật Hôn nhân gia đình.
Khoản 2 Điều 107 quy định như sau: "Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng trốn tránh nghĩa vụ thì theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 119 của Luật này, Tòa án buộc người đó phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật này."
Điều 119 quy định
"1. Người được cấp dưỡng, cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.
2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó:
a) Người thân thích;
b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
d) Hội liên hiệp phụ nữ.
3. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện hành vi trốn tránh thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó".
Như vậy, dù chồng bạn đã trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng cho con thì bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu Tòa án buộc chồng bạn thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
>> Tham khảo: Đảng viên bị kỷ luật có tiếp tục được bổ nhiệm lại không?
4. Không đăng ký kết hôn có phải nuôi con đến 18 tuổi?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình gọi số: 1900.6162
Trả lời:
Khoản 1 Điều 71 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:
"Điều 71. Nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng
1. Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình."
Theo đó, cả bạn và cha của bé đều có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng bé cho đến khi bé đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, do bạn và bạn trai chưa đăng ký kết hôn nên trong trường hợp này, bạn trai của bạn phải thừa nhận bé là con của mình thì anh ta mới có nghĩa vụ cũng như trách nhiệm nuôi dưỡng bé.
Trong trường hợp bạn trai của bạn không thừa nhận bé là con của mình, bạn có thể làm đơn yêu cầu Tòa án xác định cha cho con theo quy định tại khoản 4 Điều 27 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004. Khi đó, Tòa án sẽ tiến hành thụ lý và xét xử theo thủ tục tố tụng thông thường. Ngoài ra, bạn cũng cần chủ động thu thập và chuẩn bị những chứng cứ để chứng minh bạn trai của bạn là cha của con bạn (trong trường hợp bạn trai bạn không đồng ý giám định ADN) để Tòa án có thêm căn cứ giải quyết vụ việc. Bởi chỉ khi cơ quan có thẩm quyền công nhận mối quan hệ cha con thì bạn mới có quyền yêu cầu bố của bé thực hiện nghĩa vụ đối với con mình cho đến khi bé đủ 18 tuổi.
>> Xem thêm: Đảng viên sinh con thứ 3: Xử lý kỷ luật trong bao lâu theo luật mới?
5. Làm sao để không bị chồng gây khó dễ khi muốn nuôi con?
>> Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình, gọi số: 1900.6162
Trả lời
Căn cứ Điều 81 và Khoản 1, 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình 2014:
"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn
1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.
Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con."
Theo các quy định trên, vì Tòa án đã ra quyết định bạn là người trực tiếp nuôi con nên chồng cũ của bạn cần có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con đồng thời có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
Tuy nhiên, từ khi ly hôn cho đến nay chồng bạn không hề có trách nhiệm trợ cấp và thăm nom con cái. Có thể thấy, chồng bạn đã không thực hiện đúng những nghĩa vụ mà một người cha có thể làm. Hơn nữa, khi bạn có mong muốn đưa con ra nước ngoài chăm sóc thì anh ta lại dở chứng không đồng ý với quyết định này, có ý định ngăn cản bạn.
Cách duy nhất bạn có thể làm bây giờ là yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết cho bạn đối với việc tranh chấp về nuôi con.
Nếu có bất kỳ thắc mắc nào khác bạn có thể trực tiếp đến văn phòng của công ty chúng tôi vào giờ hành chính ở địa chỉ trụ sở của Công ty luật Minh Khuê hoặc bạn có thể liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ email Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc gọi điện để được tư vấn qua tổng đài luật sư trực tuyến: 1900.6162. Trân trọng!