1. Đánh người khác bị gãy tay thì xử lý như thế nào ?

Vào ngày 01/10/ 2017 vừa qua, chú tôi bị một người bạn do mâu thuẫn nên đã đánh chú tôi bị gãy tay. Công an huyện đã yêu cầu chú tôi hoàn thành hồ sơ giám định pháp y của bệnh viện.
Vậy xin cho hỏi, bây giờ chú tôi có quyền khởi kiện người kia để yêu cầu họ bồi thường hay không? Ông này sẽ bị đi tù bao lâu?
Mong sớm nhận được tư vấn của luật sư. Xin cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Theo quy định của pháp luật hiện hành, hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tùy tính chất, mức độ của hành vi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 104 của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình.

Thông tin bạn cung cấp vẫn chưa đầy đủ, do đó, chúng tôi chỉ căn cứ trên những thông tin mà bạn cung cấp để tư vấn cho bạn như sau:

Thứ nhất, mức độ thiệt hại chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, tức không thuộc các trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung 2009 (Bộ luật hình sự năm 2015, Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Theo đó, căn cứ theo điểm a khoản 3 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP thì người nào mà cố ý gây thương tích cho người khác sẽ bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

Thứ hai, người hàng xóm cố ý gây thương tích gây tổn hại cho sức khỏe cho chú bạn mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

- Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

- Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

- Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

- Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

- Có tổ chức;

- Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

- Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

- Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

- Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

Như vậy, nếu người bạn đã đánh chú của bạn mà thuộc một trong các trường hợp trên thì người này có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Thứ ba, hành vi đánh chú bạn của người này mà gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của chú bạn mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp nêu trong trường hợp thứ hai, thì người này sẽ bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Thứ tư, hành vi đánh chú bạn của người này mà gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của chú mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp nêu trong trường hợp thứ hai, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.
Như vậy, cần phải xem xét tỷ lệ thương tật của chú bạn là bao nhiêu thì mới có thể xác định được người kia có phải bị phạt hình phạt tù hay không? Nếu tỷ lệ thương tật hoặc không đáp ứng được các điều kiện để cấu thành tội cố ý gây thương tích thì người này chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

Trong trường hợp, hành vi của người này đáp ứng đủ điều kiện theo quy định thì chú bạn có quyền làm đơn tố cáo tội phạm đến cơ quan công an. Ngược lại, hành vi chưa đủ để cấu thành tội phạm thì chỉ bị xử lý vi phạm hành chính thì chú bạn có thể làm đơn yêu cầu cán bộ địa phương (chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn hoặc chủ thể khác có thẩm quyền) để xử phạt hành chính người này.

Bên cạnh đó, người đánh chú bạn sẽ phải bồi thường cho chú bạn một khoản tiền hợp lý, cụ thể:

- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: Tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X-quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu... theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ… để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).

- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khỏe bị xâm phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.

- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.

- Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Mang vũ khí nào để tự vệ thì không vi phạm pháp luật ? Mang vũ khí bị xử phạt như thế nào ?

2. Đồng phạm tội đánh người có bị phạt tù không?

Thưa Luật sư, vào lúc 1h30 tối em đang nhậu thì có 2 thằng bạn chạy lại gọi em đi có chuyện, em không biết gì cũng đi theo. Nhưng lúc đến hiện trường em chỉ đứng xem còn 2 người bạn vào đánh người ta. Em bị bên kia đánh đá trúng xe em, em bức xúc em đánh lại nhưng không có gây thương tích cho ai, như vậy em có bị truy tố không ?
Mong Luật sư giải đáp giúp em. Em xin chân thành cảm ơn !

Luật sư trả lời:

Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định như sau:

"Điều 136. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm..."

Như vậy, nếu như cơ quan có thẩm quyền giám định tỷ lệ thương tật của người bị đánh không vượt quá giới hạn nêu trên thì bạn có thể yên tâm bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Ba nguyên nhân dẫn đến ghen tuông mù quáng trong tình yêu ? Đánh ghen có phạm pháp ?

3. Đánh người cưỡng đoạt tài sản có bị phạt tù ?

Kính chào Công ty Luật Minh Khuê. Tôi có một vấn đề mong công ty giải đáp: Bố tôi bị tạm giam đến nay là 23 ngày vì tội đánh người cưỡng đoạt tài sản. Bố tôi là người có công với cách mạng, nhân thân tốt (một con trai là đảng viên, con trai út là công an), chưa có tiền án tiền sự, bị chất độc da cam, tiểu đường tuýp 2 và đã có triệu chứng mắt mờ và ù tai.
Khi bố tôi bị bắt, gia đinh tôi có làm đơn xin tại ngoại nhưng cơ quan công an không giải quyết. Nay, họ quyết định truy tố bố tôi về tội đánh người cưỡng đoạt tài sản (vì nhà tôi mở tiệm cầm đồ, do xô xát Bố tôi đánh người cầm đồ và lấy chiếc xe đạp để trừ tiền lãi). Quý công ty cho tôi hỏi:
Khi tôi bảo lãnh cho bố tôi tại ngoại, Cơ quan công an không giải quyết cho bố tôi là đúng hay sai? Tội của bố tôi có được hưởng chế độ khoan hồng nào không?
Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty Luật Minh khuê. Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này. Kính thư !
Người gửi: emilytran

>> Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí: 1900.6162

Trả lời:

Điều 92 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 quy định:

"Điều 92. Bảo lĩnh

1. Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn để thay thế biện pháp tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh.

2. Cá nhân có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người thân thích của họ. Trong trường hợp này thì ít nhất phải có hai người. Tổ chức có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là thành viên của tổ chức của mình. Khi nhận bảo lĩnh, cá nhân hoặc tổ chức phải làm giấy cam đoan không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội và bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án. Khi làm giấy cam đoan, cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh được thông báo về những tình tiết của vụ án có liên quan đến việc nhận bảo lĩnh.

3. Những người quy định tại khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này, Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà có quyền ra quyết định về việc bảo lĩnh.

4. Cá nhân nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo phải là người có tư cách, phẩm chất tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật. Việc bảo lĩnh phải có xác nhận của chính quyền địa phương nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc. Đối với tổ chức nhận bảo lĩnh thì việc bảo lĩnh phải có xác nhận của người đứng đầu tổ chức.

5. Cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ đã cam đoan và trong trường hợp này bị can, bị cáo được nhận bảo lĩnh sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác"

Như vậy, tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bố bạn mà cơ quan có thẩm quyền có quyết định cho bố bạn được bảo lĩnh hay không.

Trong trường hợp này, dựa trên các tình tiết, mức độ của vụ án và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng mà bố bạn sẽ được Tòa án quyết định một mức phạt phù hợp.

Điều 46, 48 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định:

"Điều 46. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

a) Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả;

c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

đ) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra;

e) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

g) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

h) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

i) Phạm tội vì bị người khác đe doạ, cưỡng bức;

k) Phạm tội do lạc hậu;

l) Người phạm tội là phụ nữ có thai;

m) Người phạm tội là người già;

n) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

o) Người phạm tội tự thú;

p) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

q) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm;

r) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

s) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác.

2. Khi quyết định hình phạt, Toà án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án.

3. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật hình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt."

"Điều 48. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

1. Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

a) Phạm tội có tổ chức;

b) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;

d) Phạm tội có tính chất côn đồ;

đ) Phạm tội vì động cơ đê hèn;

e) Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;

g) Phạm tội nhiều lần, tái phạm, tái phạm nguy hiểm;

h) Phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già, người ở trong tình trạng không thể tự vệ được hoặc đối với người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác;

i) Xâm phạm tài sản của Nhà nước;

k) Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng;

l) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;

m) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, tàn ác phạm tội hoặc thủ đoạn, phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

n) Xúi giục người chưa thành niên phạm tội;

o) Có hành động xảo quyệt, hung hãn nhằm trốn tránh, che giấu tội phạm.

2. Những tình tiết đã là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng."

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Phải làm thế nào khi bố đánh đập mẹ ? Xử lý hành vi bạo lực gia đình như thế nào ?

4. Va chạm giao thông lao vào đánh người xử lý như thế nào ?

Chào Luật sư! Em có trường hợp như sau mong Luật sư tư vấn giúp em ạ: Hôm trước em đang di chuyển trên đường bằng xe máy thì va chạm giao thông với 2 thanh niên đi cùng chiều, em ngã xuống đường chưa kịp đứng dậy thì đã bị 2 thanh niên kia lao vào chửi bới, dùng mũ bảo hiểm đánh liên tiếp vào đầu và dùng chân tay đấm đá túi bụi vào người em, làm em bị choáng. Đầu em bị cháy máu, mắt và mặt bị xưng. Rất may có mọi người xung quanh căn ngăn và đưa em đi bệnh viện băng bó. Tỷ lệ thương tích là 10%.
Luật sư cho em hỏi hành vi của họ sẽ phạm tội gì? Em phải làm gì để tố cáo hành vi của họ ?
Em trân trọng cảm ơn Luật sư

Luật sư tư vấn:

Trường hợp của bạn đang lưu thông trên đường có va chạm giao thông với 2 thanh niên, 2 thanh niên đó lao vào dùng mũ bảo hiểm đánh vào đầu và dùng tay chân đánh vào người vào mặt bạn.

Như vậy 2 thanh niên trên đã vi phạm vào tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác, căn cứ theo điểm a, khoản 1, điều 134, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn gây nguy hại cho từ 02 người trở lên;

b) Dùng a-xít sunfuric (H2SO4) hoặc hóa chất nguy hiểm khác gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;

c) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

d) Phạm tội 02 lần trở lên;

đ) Phạm tội đối với 02 người trở lên;

e) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

g) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng mình, thầy giáo, cô giáo của mình;

h) Có tổ chức;

i) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

k) Phạm tội trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

l) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe do được thuê;

m) Có tính chất côn đồ;

n) Tái phạm nguy hiểm;

o) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

Trong trường hợp này của bạn có tỷ lệ thương tích 10% thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm. Vì mũ bảo hiểm ở đây cũng được coi là hung khí nguy hiểm, căn cứ theo Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP

2.2. "Phương tiện nguy hiểm" là công cụ, dụng cụ được chế tạo ra nhằm phục vụ cho cuộc sống của con người (trong sản xuất, trong sinh hoạt) hoặc vật mà người phạm tội chế tạo ra nhằm làm phương tiện thực hiện tội phạm hoặc vật có sẵn trong tự nhiên mà người phạm tội có được và nếu sử dụng công cụ, dụng cụ hoặc vật đó tấn công người khác thì sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng hoặc sức khoẻ của người bị tấn công.

a. Về công cụ, dụng cụ

Ví dụ: búa đinh, dao phay, các loại dao sắc, nhọn...

b. Về vật mà người phạm tội chế tạo ra

Ví dụ: thanh sắt mài nhọn, côn gỗ...

c. Về vật có sẵn trong tự nhiên

Ví dụ: gạch, đá, đoạn gậy cứng, chắc, thanh sắt...

Để tố cáo hành vi cố ý gây thương tích của 2 thanh niên trên bạn hãy viết đơn tố cáo gửi lên cơ quan Công an Xã/phường hoặc gửi lên cơ quan Công an quận/ huyện nơi xảy ra sự việc hoặc nơi bạn đang sinh sống.

3. Mẫu đơn tố cáo hành vi đánh người:

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-------------o0o-----------

..................,Ngày............tháng..........năm................

ĐƠN TỐ CÁO

(Về hành vi cố ý gây thương tích)

Kính gửi: Cơ quan công an quận/huyện......................................

Tôi tên là:……………………....…………...Sinh ngày:....................

CMT hoặc Thẻ CCCD số:..…………………….Cấp bởi:………......

……………………………………..………Cấp ngày:…………………

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú:………….………………………...…

………………………………………………………………….................

Nơi ở hiện tại:..……………………………………………………………

Tôi làm đơn này xin trình bày với Cơ quan công an một vụ việc như sau:

Ngày…tháng…..năm……….tôi đang di chuyển trên đường bằng xe máy, mang biển kiểm sát……………………….thì có va chạm giao thông với 2 thanh niên đi cùng chiều. Cú va chạm khiến tôi ngã xuống đường, tôi chưa kịp đứng dậy đã bị 2 thanh niên kia lao vào cầm mũ bảo hiểm đánh liên tiếp vào đầu tôi, cùng với đó dùng tay chân đánh lien tiếp vào người vào mặt tôi. Những có đánh bất ngờ làm tôi bị choáng và đầu chảy rất nhiều máu, mắt và mặt bị bầm tím và xưng. Rất may sự việc được những người đi đường can ngăn thì 2 thanh niên kia mới dừng lại và lấy xe bỏ đi. Tôi được người dân xung quanh đưa đi cấp cứu ở bệnh viện gần đó. Tôi bị thương vùng ngoài đầu với tỷ lệ thương tích là 10%.

Vì vậy tôi viết đơn này kính đề nghị Cơ quan công an xem xét giải quyết, truy tố trách nhiệm hình sự đối với 2 thanh niên trên về hành vi cố ý gây thương tích căn cứ theo điều 104, bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Tôi xin cam đoan đơn tố cáo của tôi là đúng sự thật, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu tối tố cáo sai sự thật.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Gửi kèm theo:

  • CMTND hoặc thẻ CCCD, Sổ hộ khẩu (bản sao)
  • Giấy giám định tỷ lệ thương tích
  • Các giấy tờ khác có lien quan…

Người tố cáo

(ký, ghi rõ họ tên)

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Nên làm gì khi bị người khác đánh đập ? Bố mẹ đánh con có bị xử phạt không ?

5. Đánh người khi nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự ?

Mẹ em và cô hàng xóm cãi nhau về vụ đất đai và 2 bên đã đánh nhau bằng tay không, cô đó đá mẹ em và bị té ngã,gẫy xương đòn phải và một xương sườn 4 bên phải (gia đình e đang tiến hành giám định tỷ lệ thương tật).

>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Hai bên đều có hành vi vi phạm pháp luật, theo đó, Việc người hàng xóm gây thiệt hại cho sức khỏe của mẹ bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích theo quy định tại Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009) như sau:

" Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân."

Như vậy cần phải căn cứ vào tỷ lệ thương tích của mẹ bạn khẳng định trong trường hợp này có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không. Do hành vi của cô hàng xóm là cố ý đánh mẹ bạn nhưng bạn không chưa biết tình trạng sức khỏe của mẹ bạn như thế nào nên nêu:

TH1: Nếu tỷ lệ thương tật là dưới 11% thì cần phải thuộc vào các trường hợp tại điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi bổ sung năm 2009) thì mới đủ yếu tố cấu thành tội phạm và bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 104 Bộ luật hìn sự.

TH2: Nếu tỷ lệ thương tật từ 22% thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 104 Bộ luật hình sự.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Đánh trúng mắt người thương tật 15% thì phạm tội gì ? Hành hung người khác bị phạt thế nào ?