Đánh người khác để không cho khiếu nại thì bị tội gì?

Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

1. Khái quát chung

Hành vi phạm tội này xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo của con người được Hiến pháp năm 2013 quy định tại Điều 30 và được quy định cụ thể trong Luật Khiếu nại năm 2011 và Luật Tố cáo năm 2011.
Xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo được hiểu là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc khiếu nại, tố cáo, việc xét giải quyết các khiếu nại, tố cáo hoặc việc xử lý người bị khiếu nại, tố cáo; có trách nhiệm mà cố ý không chấp hành quyết định của cơ quan có thẩm quyền xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo, trả thù người khiếu nại, tố cáo.
Quyền khiếu nại, tố cáo là những quyền cơ bản của công dân, được Hiến pháp, pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện. Việc ghi nhận quyền khiếu nại, tố cáo của công dân đã tạo cơ sở pháp lý cho công dân thực hiện quyền cơ bản của mình. Và thông qua việc thực hiện quyền này, công dân đã góp phần tích cực vào hoạt động quản lý nhà nước và xã hội, đồng thời bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ.
Hành vi xâm phạm đến quyền khiếu nại, tố cáo nếu thỏa mãn đủ các dấu hiệu của tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà người phạm tội ngoài việc bị áp dụng hình phạt chính còn có thể bị áp dụng các hình phạt bổ sung khác.

2. Tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo được quy định như thế nào?

Tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo được quy định tại Điều 166 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017

Điều 166. Tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc hành vỉ khác cản trở việc khiếu nại, tố cáo, việc xét và giải quyết khiếu nại, tố cảo hoặc việc xử lỷ người bị khiếu nại, tố cảo;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc thỉ hành quyết định của cơ quan có thẩm quyền xét và giải quyết khiếu nại, tổ cảo gây thiệt hại cho người khiếu nại, tố cáo.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Trả thù người khiếu nại, tố cảo;
c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện hành vỉ quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;
d) Dan đến biểu tĩnh;
đ) Làm người khiếu nại, tố cáo tự sát.
3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

3. Bình luân

Điều luật gồm 3 khoản. Trong đó, khoản 1 quy định dấu hiệu pháp lý và khung hình phạt cơ bản của tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo; khoản 2 quy định trường hợp phạm tội tăng nặng và khoản 3 quy định khung hình phạt bổ sung.

3.1 Dấu hiệu chủ thể của tội phạm

Điều luật quy định hai loại hành vi phạm tội. Trong đó có loại hành vi phạm tội đòi hỏi chủ thể của tội phạm là chủ thể bình thường và có loại hành vi đòi hỏi chủ thể của tội phạm là chủ thể đặc biệt.
Đối với trường họp chủ thể bình thường, Điều 12 BLHS đòi hỏi chủ thể là người từ đủ 16 tuổi trở lên vì tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo không thuộc các tội mà tuổi chịu trách nhiệm hình sự có thể từ đủ 14 tuổi trở lên được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 BLHS.
Đối với trường họp chủ thể đặc biệt, điều luật đòi hỏi chủ thể là người có chức vụ, quyền hạn, trong đó có chức vụ, quyền hạn liên quan đến việc tiếp nhận, chuyển, xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo.
Trường hợp người phạm tội là người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để cản trở việc khiếu nại, tố cáo, việc xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc việc xử lý người bị khiếu nại, tố cáo thì bị xử phạt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 166 BLHS năm 2015.
Chủ thể của tội phạm được quy định tại điểm b khoản 1 Điều này là chủ thể đặc biệt, có nghĩa là người có trách nhiệm trong việc chấp hành quyết định của cơ quan có thẩm quyền xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo như thủ trưởng cơ quan nhà nước, người đứng đầu tổ chức xã hội, giám đốc công ty, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế.

3.2 Dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan của tội phạm này được quy định là:
+ Hành vi cản trở việc khiếu nại, to cáo, việc xét và giải quyết khiếu nại, tổ cáo hoặc việc xử lý người bị khiếu nại, tố cáo bằng thủ đoạn dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác: Đây là hành vi làm cho việc khiếu nại, tố cáo, việc xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc việc xử lý người bị khiếu nại, tố cáo không thực hiện được. Trong đó, khiếu nại được hiểu là việc công dân, cơ quan, tố chức hoặc cán bộ, công chức đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình; tố cáo được hiểu là việc công dân báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cử cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
+ Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc thỉ hành quyết định của cơ quan có thẩm quyền xét và giải quyết khiếu nại, tổ cáo gây thiệt hại cho người khiếu nại, tổ cáo: Đây là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình cản trở việc thi hành quyết định hợp pháp của cơ quan có thẩm quyền xét và giải quyết một vụ khiếu nại, tố cáo. Trong đó, bao gồm cả trường hợp không thi hành quyết định hợp pháp của cơ quan có thẩm quyền giải quyết việc khiếu nại, tố cáo như trì hoãn hoặc từ chối thi hành.
Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc hành vi khác cản trở việc khiếu nại, tố cáo, việc xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc việc xử lý người bị khiếu nại, tố cáo. Hành vi dùng vũ lực là hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động vào người khác như đánh, trói hoặc đe dọa vũ lực là hành vi bằng lời nói, cử chỉ dọa sẽ dùng vũ lực hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để cản trở, gây khó khăn cho việc khiếu nại tố cáo của người khác ở bất kỳ khâu nào như tiếp nhận đơn, thư khiếu nại tố cáo, xét và giải quyết khiếu nại tố cáo, xử lý người bị khiếu nại, tố cáo.
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc thi hành quyết định của cơ quan có thẩm quyền xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo gây thiệt hại cho người khiếu nại, tố cáo là hành vi của người có trách nhiệm phải thi hành quyết định của cơ quan có thẩm quyền về việc xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân về vụ việc nào đó nhưng đã không chấp hành, tìm mọi cách trì hoãn việc thi hành quyết định của cơ quan có thẩm quyền xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Hành vi này cấu thành tội khi đã gây thiệt hại cho người khiếu nại, tố cáo về vật chất hay tinh thần như không chịu nhận công chức, viên chức bị buộc thôi việc trái pháp luật trở lại làm việc đã gây thiệt hại về vật chất và tinh thần của người đó…

3.3 Dấu hiệu hậu quả của tội phạm

Đối với hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc thi hành quyết định của cơ quan có thẩm quyền xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo, điều luật đòi hỏi phải gây thiệt hại cho người khiếu nại, tố cáo. Thiệt hại có thể là thiệt hại vật chất (do không được khôi phục công việc nên mất thu nhập; V.V..) hoặc thiệt hại về tinh thần (không được khôi phục đảng tịch; v.v..); V.V..

3.4 Dấu hiệu lỗi của chủ thể

Lỗi của chủ thể được quy định là lỗi cố ý đối với hành vĩ cản trở việc khiếu nại, tố cáo, việc xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc việc xử lý người bị khiếu nại, tổ cáo hoặc việc thi hành quyết định của cơ quan có thẩm quyền xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Người phạm tội thực hiện hành vi phạm tối với lỗi cố ý. Người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo của con người nhưng vẫn mong muốn thực hiện.
Khoản 1 của điều luật quy định khung hình phạt cơ bản là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Khoản 2 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng có mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng như sau:
- Có tổ chức
- Đây là trường hợp đồng phạm xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo mà trong đó có sự câu kết chặt chẽ giữa những người đồng phạm.
- Trả thù người khiếu nại, tố cảo'. Đây là trường họp phạm tội mà chủ thể còn có hành vi trả thù người khiếu nại, tố cáo. Cụ thể: Chủ thể có hành vi gây thiệt hại cho người khiếu nại, tố cáo, xâm phạm quyền lợi chính đáng của họ vì họ đã khiếu nại, tố cáo như không cho đi học tập, nghiên cứu; điều chuyển sang vị trí không đúng chuyên môn, sở trường; xử lý kỷ luật không đúng với vi phạm của người khiếu nại, tố cáo; V.V..
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn (đối với trường hợp hành vi phạm tội là hành vi cản trở việc khiếu nại, tố cáo, việc xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc việc xử lý người bị khiếu nại, tố cáo được quy định tại điểm a khoản 1): Đây là trường họp người phạm tội là người có chức vụ, quyền hạn nhất định và đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó khi thực hiện hành vi cản trở việc khiếu nại, tố cáo, việc xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc việc xử lý người bị khiếu nại, tố cáo.
- Dần đến biểu tình-. Đây là trường hợp phạm tội mà hậu quả của nó là sự phản ứng của nạn nhân cũng như của những người khác bằng hình thức tụ tập đông người, xuống đường phản đối hành vi xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo đã thực hiện (biểu tình).
- Làm người khiếu nại, tổ cáo tự sát: Đây là trường hợp phạm tội mà nạn nhân đã phải tự sát do bị xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo. Việc bị xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo đã dẫn đến tâm lý không bình thường của nạn nhân và từ đó, nạn nhân đã tự sát.
Khoản 3 của điều luật quy định khung hình phạt bổ sung (có thể được áp dụng) là: cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê