1. Khái quát chung về các tội danh

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017, điều luật gồm 6 khoản. Trong đó, khoản 1 quy định các dấu hiệu pháp lý và khung hình phạt cơ bản của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; các khoản từ khoản 2 đến khoản 5 quy định các trường hợp phạm tội tăng nặng và khoản 6 quy định trường hợp chuẩn bị phạm tội. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nguôi khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được quy định tại Điều 135 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đặc biệt của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Do vậy, tội này có những dấu hiệu pháp lý chung của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và những dấu hiệu pháp lý riêng. 

Đánh người trong khi bị kích động phải chịu trách nhiệm thế nào?

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự, gọi: 1900.6162

2. Phân tích và bình luận về đặc điểm của các tội danh

2.1 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

2.1.1 Dấu hiệu chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định là chủ thể bình thường và theo Điều 12 BLHS là người từ đủ 14 tuổi trở lên trong trường hợp hành vi phạm tội thuộc các khoản 3, 4 và 5 còn trong trường hợp hành vi phạm tội thuộc các khoản 1 và 2 thì là người từ đủ 16 tuổi trở lên. 

2.1.2 Dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan của tội này được quy định là hành vi gây thương tích hoặc hành vi gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Đó là các hành vi có khả năng gây ra thương tích hoặc tổn thương khác làm tốn hại đến sức khoẻ của con người. Những hành vi này có thể được thực hiện với công cụ, phương tiện phạm tội hoặc không có công cụ, phương tiện phạm tội hoặc có thể thông qua súc vật hay cơ thể người khác...

2.1.3 Dấu hiệu hậu quả của tội phạm

Hậu quả của tội phạm được quy định là thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe ở mức độ có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 11% trở lên hoặc dưới tỷ lệ đó nhưng hành vi được thực hiện có một trong các dấu hiệu sau:
Dùng vũ khí, vật liệu no, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người: Đây là trường hợp chủ thể đã sử dụng công cụ phạm tội hoặc thủ đoạn phạm tội có đặc điểm làm tăng tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi gây thương tích hoặc hành vi gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Đe hiểu đúng và đầy đủ trường họp này cần thống nhất về nhận thức các khái niệm sau:
+ Vũ khí: Vũ khí ở đây bao gồm vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thô sơ (dao găm, kiếm, giáo, mác, thương, lưỡi lê, đao, mã tấu, côn, quả đấm, quả chùy, cung, nỏ, phi tiêu...), vũ khí thể thao và vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự (được chế tạo, sản xuất thủ công hoặc công nghiệp, không theo tiêu chuẩn kỹ thuật, thiết kế của nhà sản xuất hợp pháp, có khả năng gây sát thương, nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người, phá hủy kết cấu vật chất tương tự như vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao). 
+ Vật liệu nổ ở đây bao gồm thuốc nổ và phụ kiện nổ (kíp nổ, dây nổ, dây cháy chậm, mồi nổ,...). 
+ Hung khí nguy hiểm ở đây được hiểu là công cụ phạm tội có tính nguy hiểm cho con người cao hơn các công cụ phạm tội thông thường nhưng không phải là vũ khí, vật liệu nổ như xà beng, búa tạ...
+ Thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người ở đây được hiểu là thủ đoạn có khả năng gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe không chỉ cho một người mà cho nhiều người như thủ đoạn bỏ hoá chất gây ngộ độc vào thức ăn chung của gia đình...
Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm: Đây là trường hợp chủ thể đã sử dụng phương tiện phạm tội có tính nguy hiểm cao. Trong đó, a-xít nguy hiểm được hiểu là a-xít có khả năng gây tổn thương cho các bộ phận cơ thể người khi có sự tiếp xúc giữa a-xít này với cơ thể người; hóa chất nguy hiểm được hiểu là hóa chất bất kỳ, không phải là a-xít nhưng có khả năng gây tổn hại cho sức khỏe của con người.
Đổi với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ổm đau hoặc người không có khả năng tự vệ: Đây là trường họp nạn nhân của hành vi phạm tội là các đối tượng yếu thế cần được ưu tiên bảo vệ và do vậy mà làm tăng tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe.
Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người 
nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình: Đây là trường họp nạn nhân của hành vi phạm tội là các đối tượng có quan hệ đặc biệt với chủ thể thực hiện hành vi nên làm tăng tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe. 
Có tổ chức: Đây là trường họp hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được thực hiện dưới hình thức đồng phạm mà trong đó có sự câu kết chặt chẽ giữa những người đồng phạm. Hình thức thực hiện này làm tăng tính nguy hiểm của hành vi gây thưong tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn: Đây là trường hợp hành vi gây thưong tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn và họ đã lợi dụng điều này khi thực hiện hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Việc lợi dụng này làm tăng tính nguy hiểm của hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Đây là trường hợp chủ thể thực hiện hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho người sức khỏe của người khác trong hoàn cảnh tương đối đặc biệt. Theo đó, họ có thể là người có đặc điểm nhân thân xấu “đã bị kết án phạt tù ” hoặc “đã bị xử lý vỉ phạm hành chỉnh Việc quy định đặc điểm nhân thân xấu là dấu hiệu định tội của tội phạm này cũng như việc quy định đặc điểm “đã bị kết án ” nói chung hoặc đặc điếm “đã bị xử phạt vi phạm hành chính ” hoặc đặc điểm “đã bị xử lỷ kỷ luật” là dấu hiệu định tội ở một số tội khác là vấn đề đang có tranh luận. Có ý kiến cho rằng, việc quy định này là chưa phù họp với nguyên tắc: “Không được truy cứu trách nhiệm hình sự một người về đặc điểm nhân thân của họ”. Việc quy định đặc điểm nhân thân xấu là dấu hiệu định tội đã dẫn đến bất hợp lý của các CTTP có dấu hiệu này về kỹ thuật lập pháp cũng như có thể dẫn đến bất họp lý trong thực tiễn xét xử. 
Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê: Đây là trường hợp hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được thực hiện dưới hình thức đồng phạm mà trong đó có người thuê và người được thuê thực hiện hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
Có tính chất côn đồ: Đây là trường hợp cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tất cả những tình tiết của vụ án thể hiện người phạm tội có tính hung hãn cao độ, quá coi thường sức khỏe của người khác, sẵn sàng phạm tội vì những nguyên cớ nhỏ nhặt.
Đối với người đang thỉ hành công vụ hoặc vĩ lý do công vụ của nạn nhân: Đây là trường họp mà nạn nhân là người đang thi hành công vụ hoặc là trường hợp mà động cơ của hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác gắn liền với việc thi hành công vụ của nạn nhân (để không cho nạn nhân thi hành công vụ hoặc để trả thù việc nạn nhân đã thi hành công vụ). 
Như vậy, những trường hợp gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ có tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% và không thuộc các trường hợp nêu trên là trường hợp chưa cấu thành tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác.
Khi đã xác định có hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ và có hậu quả thương tích hoặc hậu quả tổn hại cho sức khỏe, đòi hỏi phải xác định QHNQ giữa hành vi khách quan đã thực hiện và hậu quả thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe đã xảy ra.

2.1.4 Dấu hiệu lỗi của chủ thể

Lỗi của người phạm tội được quy định là lỗi cố ý, có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc là lỗi cố ý gián tiếp. Người phạm tội có thể mong muốn hậu quả thương tích hoặc hậu quả tổn hại cho sức khoẻ nhưng cũng có thể chỉ chấp nhận các hậu quả này.

2.1.5 Khung hình phạt được áp dụng

Khoản 1 của điều luật quy định khung hình phạt cơ bản là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Khung hình phạt này được áp dụng cho trường hợp phạm tội mà tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 31% trong trường hợp bình thường hoặc dưới 11% trong các trường hợp đặc biệt được quy định tạỉ các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1.
Khoản 2 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ nhất có mức phạt tù từ 02 năm đến 06 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%: Đây là trường hợp phạm tội chỉ có 01 nạn nhân và không thuộc một trong các trường hợp được quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1.
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thượng cơ thể của moi người từ 11%) đến 30%: Đây là trường hợp phạm tội có 02 nạn nhân trở lên và không thuộc một trong các trường hợp được quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1.
- Phạm tội 02 lần trở lền: Đây là trường hợp có 02 hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà mỗi hành vi đều đủ dấu hiệu của tội phạm.
- Tái phạm nguy hiểm: Đây là trường hợp phạm tội thoả mãn các điều kiện được quy định tại khoản 2 Điều 53 BLHS. 
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp được quy định tại các điểm từ điểm a đến điếm k khoản 1: Đây là trường hợp hành vi cấu thành tội phạm mà không cần tỷ lệ tổn thương cơ thể là 11% trở lên vì đã có tình tiết được quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1.
Khoản 3 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ hai có mức phạt tù từ 05 năm đến 10 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỳ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên (nếu không thuộc trường hợp được quy định tại điểm b khoản 4): Đây là trường hợp có 01 nạn nhân và tỷ lệ tổn thương cơ thể là từ 61 % trở lên nhưng không phải là trường hợp làm biến dạng vùng mặt của nạn nhân.
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%: Đây là trường hợp có nhiều nạn nhân và tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi nạn nhân là từ 31% đến 60%.
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cùa người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp được quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1: Đây là trường hợp có 01 nạn nhân có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% và hành vi cấu thành tội phạm mà không cần tỷ lệ tổn thương cơ thể là 11% trở lên vì đã có tình tiết được quy định tại cảc điểm từ điểm a đến điếm k khoản 1.
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đển 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp được quy định tại các điểm từ điểm a đến điếm k khoản 1: Đây là trường hợp có nhiều nạn nhân có tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người là từ 11% đến 30% và hành vi cấu thành tội phạm mà không cần tỷ lệ tổn thương cơ thể là 11% trở lên vì đã có tình tiết được quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1.
Khoản 4 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ ba có mức phạt tù từ 07 năm đến 14 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
- (Phạm tội) làm chết người'. Đây là trường hợp phạm tội đã gây ra hậu quả chết người. Trong đó, người phạm tội chỉ cố ý đối với việc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân còn đối với hậu quả chết người do hành vi của họ gây ra, lỗi của người phạm tội chỉ là lỗi vô ý. Việc xác định lỗi của chủ thể đối với hậu quả chết người trong thực tế xét xử là không dễ dàng. Do vậy, có nhiều khả năng xác định sai và dẫn đến định tội sai.  Do vậy, Tòa án nhân dân tối cao có giải thích hướng dẫn về trường hợp phạm tội này: “Thương tích dẫn đến chết người trước hết là thương tích nặng làm cho nạn nhân chết vĩ thương tích nặng này, nghĩa là giữa thương tích và cái chết của nạn nhãn cổ moi QHNQ. Thí dụ: Đâm vào hông nạn nhân làm nạn nhân bị đứt tĩnh mạch hông và do bị mất nhiều máu nên nạn nhân chết. Cũng coi là cố ỷ gây thương tích dẫn đến chết người trường hợp gây thương tích không phải là thương tích nặng nhưng vì nạn nhân là người quá già yếu, có bệnh nặng, việc gây thương tích làm cho bị chết sớm hơn, nếu không bị gây thương tích thì nạn nhân chưa chết” Tũ(,}
- Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên: Đây là trường hợp mà hậu quả thương tích có đặc điểm làm tăng tính nguy hiểm là làm biến dạng vùng mặt, gây tác động tâm lý xấu cho nạn nhân.
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên: Đây là trường hợp có nhiều nạn nhân và tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi nạn nhân là từ 61 % trở lên.
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lén nhưng thuộc một trong các trường hợp được quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1: Đây là trường hợp có 01 nạn nhân có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên và hành vi cấu thành tội phạm mà không cần tỷ lệ tổn thương cơ thể là 11% trở lên vì đã có tình tiết được quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1.
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31%) đến 60% nhưng có một trong các tĩnh tiết được quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1: Đây là trường hợp có nhiều nạn nhân có tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người là từ 31% đến 60% và hành vi cấu thành tội phạm mà không cần tỷ lệ tổn thương cơ thể là 11% trở lên vì đã có tình tiết được quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1.
Khoản 5 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ tư là phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân được áp dụng cho trường họp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
- Làm chết 02 người trở lên: Đây là tường hợp đã gây ra hậu quả chết nhiều người và lỗi của chủ thể đỏi với hậu quả đều là vô ý.
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61%) trở lên: Đây là trường hợp có nhiều nạn nhân có tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người là từ 61 % trở lên và hành vi cấu thành tội phạm mà không cần tỷ lệ tổn thương cơ thể là 11% trở lên vì đã có tình tiết được quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1.
Khoản 6 của điều luật quy định khung hình phạt cho chuẩn r bị phạm tội là cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm. Quy định này là điểm mới của BLHS năm 2015 so với BLHS năm 1999, thể hiện rõ đường lối xử lý có sự phân hóa trách nhiệm hình sự một cách rõ ràng giữa trường hợp chuẩn bị phạm tội và trường hợp tội phạm hoàn thành ở tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Tuy nhiên, theo quy định này thì không phải tất cả các trường hợp chuẩn bị phạm tội của tội này đều phải chịu trách nhiệm hình sự. Đỉều luật đã giới hạn những trường hợp chuẩn bị phạm tội của tội phạm này phải chịu trách nhiệm hình sự là các trường hợp đã chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc là hành vi thành lập, tham gia nhóm tội phạm. Giới hạn này mâu thuẫn với nội dung của khoản 2 Điều 14 BLHS vì khoản 2 này không có nội dung giới hạn như vậy.  Theo Điều 14 BLHS, người từ đủ 16 tuổi trở lên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi chuẩn bị phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. 
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: Gây thương tích hoặc gây tổn hại chó sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của moi người 31% trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người.

2.2 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nguôi khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh 

2.2.1 Dấu hiệu chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm này là người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh khi phạm tội (khi thực hiện hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác). Trong đó, “Tình trạng tinh thần bị kích động mạnh là tĩnh trạng người phạm tội không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình...”.    Trạng thái tinh thần bị kích động mạnh của người phạm tội là do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc đối với người thân của người phạm tội gây ra.
Như vậy, nguyên nhân của tình trạng tinh thần bị kích động mạnh là hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của chính nạn nhân. Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng nói ở đây có thể cấu thành tội phạm hoặc cũng có thể không hoặc chưa cấu thành tội phạm. Nhưng dù ở trường hợp nào thì hành vi đó cũng phải có tính chất là trái pháp luật nghiêm trọng. Trong trường hợp bình thường, hành vi trái pháp luật không nghiêm trọng khó có thể gây ra tình trạng tinh thần kích động mạnh.
Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân có thể chỉ là một hành vi cụ thể và tức thì dẫn đến trạng thái thần kinh bị kích động mạnh của người phạm tội. Nhưng cũng có trường hợp hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân là chuỗi những hành vi khác nhau diễn ra có tính lặp đi, lặp lại trong suốt thời gian dài và liên tiếp tác động đến tinh thần người phạm tội làm cho họ bị dồn nén về mặt tâm lý. Đen thời điểm nào đó, khi có hành vi trái pháp luật cụ thể xảy ra thì trạng thái tinh thần của người phạm tội bị đẩy đến cao độ và người phạm tội lâm vào trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Trong trường hợp này, nếu chỉ xét hành vi cụ thể ngay liền trước trạng thái bị kích động mạnh sẽ không thấy được sự nghiêm trọng của hành vi trái pháp luật của nạn nhân.
Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân có thể là đối với chính người phạm tội hoặc có thể là đối với người khác có quan hệ tình cảm thân thuộc với người phạm tội.
Theo Điều 12 BLHS, chủ thể của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là người từ đủ 16 tuổi trở lên vì tội này không thuộc các tội mà tuổi chịu trách nhiệm hình sự có thể từ đủ 14 tuổi trở lên được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 BLHS. 

2.2.2 Dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan được quy định của tội này là hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng và đã làm cho chủ thể lâm vào trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Theo đó, hành vi ở đây chỉ có thể là hành động như đâm, chém hay đánh...

2.2.3 Dấu hiệu hậu quả của tội phạm

Hậu quả của tội phạm được quy định là thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% trở lên. Đe buộc chủ thể của tội phạm phải chịu trách nhiệm hình sự về hậu quả này cũng cần chứng minh QHNQ giữa hậu quả này với hành động mà họ đã thực hiện.

2.2.3 Dấu hiệu lỗi của chủ thể

Lỗi của chủ thể được quy định có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp.
Khoản 1 của điều luật quy định khung hình phạt cơ bản là phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm. Khung hình phạt này nhẹ hơn so với các khung hình phạt của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác vì đây là trường hợp có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đặc biệt. Cụ thể: Người phạm tội đã thực hiện hành vi trong tình trạng khả năng nhận thức và kiềm chế đều bị hạn chế ở mức cao và hơn nữa tình trạng đó lại do chính nạn nhân gây ra. Như vậy, trong trường hợp phạm tội này, mức độ lỗi của chủ thể phạm tội là hạn chế và nạn nhân cũng có lỗi.
Khoản 2 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng có mức phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên: Đây là trường hợp có từ 02 nạn nhân trở lên.
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người: Đây là trường hợp nạn nhân có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61 % trở lên hoặc là trường hợp nạn nhân đã chết do bị gây thương tích hoặc bị gây tổn hại cho sức khỏe và lỗi của chủ thể đối với hậu quả chết người là lỗi vô ý.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê