1. Lấn, chiếm đất là gì?

Theo giải thích tại Nghị định 91/2019/NĐ-CP:

Lấn đất là việc người sử dụng đất chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới thửa đất để mở rộng diện tích đất sử dụng mà không được cơ quan quản lý nhà nước về đất đai cho phép hoặc không được người sử dụng hợp pháp diện tích đất bị lấn đó cho phép.

Chiếm đất là việc sử dụng đất thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Tự ý sử dụng đất mà không được cơ quan nhà nước về đất đai cho phép;

- Tự ý sử dụng đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác mà không được tổ chức, cá nhân đó cho phép;

- Sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất đã hết thời hạn sử dụng mà không được nhà nước gia hạn sử dụng đất và đã có quyết định thu hồi đất được công bố, tổ chức thực hiện nhưng người sử dụng đất không chấp hành (trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản cuất nông nghiệp sử dụng đất nông nghiệp);

- Sử dụng đất trên thực địa mà chưa hoàn thành các thủ tục giao đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật.

 

2. Các trường hợp sử dụng đất do lấn, chiếm được cấp sổ đỏ

Điều 22 Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định về việc xử lý, cấp Giấy chứng nhạn quyền sử dụng đất, quyền dở hữu  nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có vi phạm pháp luật đất đai trước ngày 01 tháng 7 năm 2014. Trong đó, tại khoản 5 Điều này quy định người đang sử dụng đất ổn định trong các trường hợp quy định tại khoản 1, điểm a, điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều này mà không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất .... Theo đó, các trường hợp đang sử dụng đất do lấn chiếm đáp ứng điều kiện sẽ được xem xét cấp sổ đỏ theo quy định này gồm:

(i) Sử dụng đất lấn, chiếm hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng sau khi Nhà nước đã công bố, cắm mốc hành lang bảo vệ hoặc lấn, chiếm lòng đường, lề đường, vỉa hè sau khi Nhà nước đã công bố chỉ giới xây dựng hoặc lấn, chiếm đất sử dụng cho mục đích xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp, công trình công cộng khác mà nay đã có điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt diện tích đất lấn, chiếm không còn thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng; không thuộc chỉ giới xây dựng đường giao thông; không có mục đích sử dụng cho trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp và công trình công cộng khác thì được cấp sổ đỏ và phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định.

(ii) Trường hợp đang sử dụng đất lấn, chiếm đã được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất cho các nông trường, lâm trường quốc doanh, Ban quản lý rừng, trung tâm, trạm, trại, công ty nông nghiệp, lâm nghiệp mà diện tích đất lấn, chiếm thuộc quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, rừng phòng hộ nhưng ở đó không có Ban quản lý rừng thì người sử dụng đất lấn, chiếm được Nhà nước giao đất để sử dụng vào mục đích bảo vệ, phát triển rừng phòng hộ và được cấp sổ đỏ.

(iii) Trường hợp đất lấn, chiếm đã được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất cho các nông trường, lâm trường quốc doanh, Ban quản lý rừng, trung tâm, trạm, trại, công ty nông nghiệp, lâm nghiệp mà nay đang sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp hoặc làm nhà ở và không thuộc quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, xây dựng công trình hạ tầng công cộng thì người đang sử dụng được xem xét cấp sổ đỏ.

Lưu ý: Nếu đất lấn chiếm kể từ ngày 01/7/2004 đến trước ngày 01/7/2014 đang sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp song hiện nay diện tích đất này vẫn được xác định giao cho nông trường, lâm trường quản lý, sử dụng thì diện tích lấn, chiếm sẽ được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thu hồi để trả lại cho nông trường, lâm trường.

(iv) Trường hợp lấn, chiếm đất chưa sử dụng mà đất đó không thuộc đất thuộc quy hoạch sử dụng cho các mục đích quốc phòng, an ninh quy định tại Điều 61 và đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng quy định tại Điều 62 của Luật đất đai 2013 thì xem xét cấp sổ đỏ.

Như vậy, theo quy định tại khoản 5 Điều 22 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, chỉ 04 trường hợp đang sử dụng đất do lấn, chiếm nêu trên mới được xem xét cấp sổ đỏ và chỉ được cấp sổ đỏ khi đáp ứng các điều kiện theo quy định.

 

3. Điều kiện cấp sổ đỏ đối với đất lấn chiếm là gì?

Căn cứ quy định tại Điều 22 Nghị định 43/2014/NĐ-CP thì điều kiện xét cấp sổ đỏ đối với người đang sử dụng đất do lấn, chiếm gồm:

- Đất lấn, chiếm thuộc các trường hợp nêu cụ thể tại mục 2;

- Đất đang sử dụng ổn định, không có tranh chấp;

- Thời gian lấn, chiếm đất phải xảy ra trước ngày 01/7/2014;

- Người đang sử dụng đất do lấn, chiếm là hộ gia đình, cá nhân.

Như vậy, không phải mọi trường hợp lấn, chiếm đất đều được cấp sổ đỏ mà chỉ đối với một số trường hợp nhất định theo quy định pháp luật đồng thời cũng phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định mới được xem xét cấp sổ đỏ. Và quan trọng nhất chính là hành vi lấn, chiếm đất phải xảy ra trước ngày 01/7/2014.

Mọi hành vi lấn, chiếm đất sau ngày 1/7/2014 là hành vi vi phạm pháp luật tùy mức độ mà sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại Điều 14 Nghị định 91/2019/NĐ-CP hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai theo quy định tại Điều 288 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 chứ không được xem xét cấp sổ đỏ.

Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực đất đai cần tham vấn ý kiến luật sư mời bạn đọc liên hệ tới Hotline 1900.6162 để được đội ngũ luật sư của Luật Minh Khuê tư vấn trực tuyến. Rất mong nhận được sự hợp tác!