Mục lục bài viết
Năm 1995, gia đình ông T được Nhà nước giao 3ha đất để trồng lúa, thời hạn giao đất là 20 năm. Từ năm 2014, do không còn đủ sức lao động, nên ông T đã cho ông C (là em ruột của ông T) thuê đất để canh tác và thu hoạch sau mỗi vụ lúa. Đầu năm 2018, trong lúc sắp xếp lại các loại giấy tờ, ông T tình cờ đọc lại thông tin ghi trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà mình đã được cấp vào năm 1995 và phát hiện đất đã hết thời hạn sử dụng từ năm 2015. Ông T rất lo lắng và hoang mang không biết 3ha đất trồng lúa này có còn thuộc quyền sử dụng của mình hay không, vì lâu nay người trực tiếp sử dụng cũng như nộp thuế cho Nhà nước là ông C.
Câu hỏi đặt ra là, liệu Nhà nước có thu hồi đất của ông T để giao cho ông C vì đất đã hết thời hạn sử dụng hay không?
Trả lời:
1. Cơ sở pháp lý
2. Nội dung
2.1 Một số khái niệm có liên quan
Một số khái niệm có liên quan trong bài viết này được quy định tại Điều 3 của Luật đất đai 2013, được quy định cụ thể như sau:
Điều 3. Giải thích từ ngữTrong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:7. Nhà nước giao quyền sử dụng đất (sau đây gọi là Nhà nước giao đất) là việc Nhà nước ban hành quyết định giao đất để trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất.16. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.30. Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp là hộ gia đình, cá nhân đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp; nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp và có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp trên đất đó.
2.2 Đất sử dụng có thời hạn
Căn cứ theo quy định của Luật đất đai 2013 thì đất nông nghiệp thuộc nhóm đất giao có thời hạn,cụ thể, tại Điều 126 Luật đất đai 2013 thì:
Điều 126. Đất sử dụng có thời hạn1. Thời hạn giao đất, công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp theo quy định tại khoản 1, khoản 2, điểm b khoản 3, khoản 4 và khoản 5 Điều 129 của Luật này là 50 năm. Khi hết thời hạn, hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nếu có nhu cầu thì được tiếp tục sử dụng đất theo thời hạn quy định tại khoản này.2. Thời hạn cho thuê đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân không quá 50 năm. Khi hết thời hạn thuê đất, hộ gia đình, cá nhân nếu có nhu cầu thì được Nhà nước xem xét tiếp tục cho thuê đất.3. Thời hạn giao đất, cho thuê đất đối với tổ chức để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối; tổ chức, hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ, làm cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; tổ chức để thực hiện các dự án đầu tư; người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để thực hiện các dự án đầu tư tại Việt Nam được xem xét, quyết định trên cơ sở dự án đầu tư hoặc đơn xin giao đất, thuê đất nhưng không quá 50 năm.Đối với dự án có vốn đầu tư lớn nhưng thu hồi vốn chậm, dự án đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn mà cần thời hạn dài hơn thì thời hạn giao đất, cho thuê đất không quá 70 năm.Đối với dự án kinh doanh nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp với cho thuê hoặc để cho thuê mua thì thời hạn giao đất cho chủ đầu tư được xác định theo thời hạn của dự án; người mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất được sử dụng đất ổn định lâu dài.Khi hết thời hạn, người sử dụng đất nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng thì được Nhà nước xem xét gia hạn sử dụng đất nhưng không quá thời hạn quy định tại khoản này....8. Thời hạn giao đất, cho thuê đất quy định tại Điều này được tính từ ngày có quyết định giao đất, cho thuê đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Ở Việt Nam, đất đai là tài sản thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Vì vậy, người dân chỉ có quyền sử dụng đất do Nhà nước trao cho và chỉ được sử dụng trong một khoảng thời hạn nhất định tùy theo từng loại đất. Đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất đặc biệt được Nhà nước giao cho nông dân để sản xuất, lao động và được hưởng thành quả, bảo đảm cuộc sống nên cần có thời hạn sử dụng đất để những người khác sau đó cũng có tư liệu đất đai. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là sau khi hết thời hạn sử dụng, thì Nhà nước sẽ thu hồi đất, vì theo điểm d khoản 1 Điều 65 Luật Đất đai năm 2013, thì Nhà nước chỉ thu hồi đối với đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn, nhưng không được gia hạn. Như vậy, không phải mọi trường hợp đất được Nhà nước giao hết thời hạn sử dụng đất thì sẽ bị thu hồi.
2.3 Đất nông nghiệp trong trường hợp hết thời hạn giao đất
Căn cứ khoản 3 Điều 210 Luật Đất đai năm 2013 có quy định thì:
Điều 210. Điều khoản chuyển tiếp3. Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp đã được giao đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành, khi hết thời hạn sử dụng đất nếu có nhu cầu thì được tiếp tục sử dụng đất theo thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 126 của Luật này. Thời hạn sử dụng đất được tính từ ngày 15 tháng 10 năm 2013 đối với trường hợp hết hạn vào ngày 15 tháng 10 năm 2013 theo quy định của Luật đất đai năm 203; tính từ ngày hết thời hạn giao đất đối với trường hợp hết hạn sau ngày 15 tháng 10 năm 2013.
Như vậy có nghĩa là, hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp đã được giao đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành, khi hết thời hạn sử dụng đất nếu có nhu cầu thì được tiếp tục sử dụng đất theo thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 126 của Luật.
Đồng thời, theo khoản 1 Điều 126 Luật Đất đai năm 2013 quy định thì thời hạn giao đất, công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp theo quy định tại khoản 1, khoản 2, điểm b khoản 3, khoản 4 và khoản 5 Điều 129 của Luật này là 50 năm. Khi hết thời hạn, hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nếu có nhu cầu thì được tiếp tục sử dụng đất theo thời hạn quy định tại khoản này”
=> Tóm lại, trong tình huống này, ông T vẫn được xem là cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, mặc dù từ năm 2014, ông T đã cho ông C thuê đất để sản xuất. Bởi vì, thực tế thì từ năm 1995, ông T được Nhà nước giao 3ha đất trồng lúa. Căn cứ quy định của pháp luật đất đai, thì ông T mới là người sử dụng đất hợp pháp đối với 3ha đất nói trên (người được Nhà nước giao đất), chứ không phải là ông C. Vì vậy, ông T có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai. Việc ông T cho ông C thuê đất không dẫn đến hành vi chuyển quyền sử dụng đất sang cho ông C. Do đó, cơ quan có thẩm quyền sẽ không thu hồi đất của ông T để giao cho ông C. Trong trường hợp ông T có nhu cầu làm thủ tục gia hạn sẽ vẫn được cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Đồng thời, Nhà nước cũng không thu hồi đất với lý do hết thời hạn sử dụng đất nếu ông T không đi làm thủ tục gia hạn. Bởi lẽ, theo khoản 2 Điều 74 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP: “Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp đang sử dụng đất nông nghiệp được Nhà nước giao, công nhận, nhận chuyển quyền sử dụng đất, khi hết thời hạn sử dụng đất thì được tiếp tục sử dụng đất theo thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 126 và khoản 3 Điều 210 của Luật Đất đai mà không phải làm thủ tục điều chỉnh thời hạn sử dụng đất”. Điều này có nghĩa là Nhà nước sẽ không thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân vì lý do hết thời hạn sử dụng. Quy định này thể hiện sự ưu đãi của Nhà nước đối với các hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, giúp họ yên tâm đầu tư quy mô lớn, sử dụng đất một cách ổn định, lâu dài, bền vững.
Ngoài ra, ông T có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận lại thời hạn sử dụng đất trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp theo trình tự, thủ tục quy định tại khoản 3 Điều 74 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, cụ thể người sử dụng đất nộp hồ sơ đề nghị xác nhận lại thời hạn sử dụng đất;Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất kiểm tra hồ sơ, xác nhận hộ gia đình, cá nhân đang trực tiếp sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp mà chưa có quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và chuyển hồ sơ đến Văn phòng đăng ký đất đai; Văn phòng đăng ký đất đai kiểm tra hồ sơ; xác nhận thời hạn được tiếp tục sử dụng đất theo thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 126 và khoản 3 Điều 210 của Luật Đất đai vào Giấy chứng nhận đã cấp; chỉnh lý, cập nhật vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai và trao Giấy chứng nhận cho người sử dụng đất hoặc gửi Ủy ban nhân dân cấp xã để trao đối với trường hợp nộp hồ sơ tại cấp xã.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty Luật Minh Khuê