- 1. Điều kiện đối với cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhận chuyển nhượng đất trồng lúa quá hạn mức theo Luật đất đai 2024?
- 2. Cơ quan nào có thẩm quyền phê duyệt phương án sử dụng đất lúa của cá nhân không trực tiếp sản xuất đất nông nghiệp?
- 3. Hạn mức giao đất nông nghiệp đối với cá nhân được quy định như thế nào?
- Kết luận
Đất trồng lúa giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong cơ cấu sử dụng đất của Việt Nam, không chỉ là tư liệu sản xuất chủ yếu của người nông dân mà còn gắn liền với mục tiêu bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và ổn định xã hội. Trong bối cảnh phát triển kinh tế – xã hội và quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, nhu cầu nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trồng lúa ngày càng gia tăng, kể cả đối với những cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp. Nhận thức được những rủi ro tiềm ẩn từ việc tích tụ đất đai thiếu kiểm soát, Luật Đất đai 2024 đã đặt ra các điều kiện chặt chẽ đối với trường hợp cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhận chuyển nhượng đất trồng lúa vượt quá hạn mức. Những quy định này không chỉ thể hiện vai trò quản lý của Nhà nước đối với tài nguyên đất đai mà còn hướng tới việc sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả và bền vững trong dài hạn.
1. Điều kiện đối với cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhận chuyển nhượng đất trồng lúa quá hạn mức theo Luật đất đai 2024?
Theo khoản 8 Điều 45 Luật Đất đai năm 2024, pháp luật không còn quy định hạn chế đối với cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp trong việc nhận chuyển nhượng hoặc nhận tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa. So với quy định trước đây, đây là điểm mới quan trọng, bởi trước kia chỉ những người trực tiếp sản xuất nông nghiệp mới được phép nhận đất trồng lúa nhằm bảo đảm sử dụng đất đúng mục đích và giữ vững an ninh lương thực.
Từ ngày 01/01/2025, mọi cá nhân, bao gồm cả người không trực tiếp sản xuất nông nghiệp, đều có quyền hợp pháp nhận chuyển nhượng hoặc nhận tặng cho đất trồng lúa, qua đó mở rộng quyền sử dụng đất và tăng tính linh hoạt cho thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp.
Tuy nhiên, theo khoản 7 Điều 45 Luật Đất đai 2024, trong trường hợp cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhận chuyển nhượng hoặc nhận tặng cho đất trồng lúa vượt quá hạn mức quy định tại Điều 176 của Luật này, thì phải đáp ứng các điều kiện bổ sung theo quy định của pháp luật.
Cụ thể, cá nhân đó phải thành lập tổ chức kinh tế và xây dựng phương án sử dụng đất trồng lúa theo quy định tại khoản 6 Điều 45 Luật Đất đai 2024, đồng thời phương án này phải được Ủy ban nhân dân có thẩm quyền phê duyệt, trừ trường hợp người nhận tặng cho là người thuộc hàng thừa kế.
Như vậy, để được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trồng lúa quá hạn mức, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
(1) Thành lập tổ chức kinh tế;
(2) Lập phương án sử dụng đất trồng lúa, trong đó nêu rõ các nội dung như địa điểm, diện tích, mục đích sử dụng đất; kế hoạch sản xuất, kinh doanh nông nghiệp; vốn đầu tư; thời hạn và tiến độ sử dụng đất;
(3) Được Ủy ban nhân dân có thẩm quyền xem xét và phê duyệt phương án sử dụng đất.
2. Cơ quan nào có thẩm quyền phê duyệt phương án sử dụng đất lúa của cá nhân không trực tiếp sản xuất đất nông nghiệp?
Theo quy định tại khoản 7 và điểm a khoản 1 điều 5 Nghị định 151/2025/NĐ-CP quy định như sau:
Điều 5. Thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện chuyển giao cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã
1. Thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện theo quy định của Luật Đất đai chuyển giao cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện, bao gồm:
a) Chấp thuận phương án sử dụng đất nông nghiệp của tổ chức kinh tế quy định tại khoản 6 Điều 45 Luật Đất đai; phê duyệt phương án sử dụng đất lúa của cá nhân quy định tại khoản 7 Điều 45 Luật Đất đai;
Quy định này thể hiện rõ chủ trương phân cấp, phân quyền trong quản lý đất đai, góp phần đơn giản hóa thủ tục hành chính và tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng đất trong quá trình thực hiện quyền của mình.
Như vậy, trong trường hợp cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trồng lúa vượt quá hạn mức và phải lập phương án sử dụng đất trồng lúa theo quy định tại khoản 7 Điều 45 Luật Đất đai 2024, thì thẩm quyền phê duyệt phương án sử dụng đất trồng lúa sẽ thuộc về Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.
3. Hạn mức giao đất nông nghiệp đối với cá nhân được quy định như thế nào?
- Hạn mức giao đất trồng cây hằng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối ( Khoản 1 điều 176 Luật đất đai 2024)
| Loại đất | Đối tượng áp dụng | Khu vực | Hạn mức giao đất |
| Đất trồng cây hằng năm | Cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp | Đông Nam Bộ, ĐBSCL | Không quá 03 ha/loại |
| Đất trồng cây hằng năm | Cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp | Các tỉnh, thành khác | Không quá 02 ha/loại |
| Đất nuôi trồng thủy sản | Cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp | Đông Nam Bộ, ĐBSCL | Không quá 03 ha/loại |
| Đất nuôi trồng thủy sản | Cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp | Các tỉnh, thành khác | Không quá 02 ha/loại |
| Đất làm muối | Cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp | Đông Nam Bộ, ĐBSCL | Không quá 03 ha/loại |
| Đất làm muối | Cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp | Các tỉnh, thành khác | Không quá 02 ha/loại |
- Hạn mức giao đất trồng cây lâu năm và đất rừng (khoản 2 và 3 điều 176 Luật đất đai 2024
| Loại đất | Khu vực áp dụng | Hạn mức giao đất |
| Đất trồng cây lâu năm | Đồng bằng | Không quá 10 ha |
| Đất trồng cây lâu năm | Trung du, miền núi | Không quá 30 ha |
| Đất rừng phòng hộ | Toàn quốc | Không quá 30 ha |
| Đất rừng sản xuất là rừng trồng | Toàn quốc | Không quá 30 ha |
- Hạn mức giao đất trong trường hợp cá nhân được giao nhiều loại đất
Theo khoản 4 điều 176 Luật đất đai 2024, Trường hợp cá nhân được Nhà nước giao đồng thời nhiều loại đất thuộc nhóm đất trồng cây hằng năm, đất nuôi trồng thủy sản và đất làm muối thì tổng hạn mức giao đất đối với các loại đất này không được vượt quá 05 ha. Quy định này nhằm bảo đảm việc phân bổ đất đai hợp lý, tránh tình trạng tập trung quá nhiều đất nông nghiệp vào một cá nhân.
Trong trường hợp cá nhân đã được giao các loại đất nêu trên và được giao thêm đất trồng cây lâu năm thì hạn mức đối với đất trồng cây lâu năm được xác định riêng, không quá 05 ha đối với khu vực đồng bằng và không quá 25 ha đối với khu vực trung du, miền núi. Nếu cá nhân được giao thêm đất rừng sản xuất là rừng trồng thì hạn mức giao đất rừng sản xuất trong trường hợp này không quá 25 ha. Các quy định này thể hiện sự linh hoạt của pháp luật đất đai, đồng thời phù hợp với điều kiện tự nhiên và khả năng sử dụng đất của từng vùng.
- Hạn mức giao đất chưa sử dụng đưa vào sử dụng theo quy hoạch
Theo quy định khoản 5 điều 176 Luật đất đai 2024, Hạn mức giao đất chưa sử dụng cho cá nhân đưa vào sử dụng theo quy hoạch nhằm phục vụ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản và làm muối được quy định không vượt quá hạn mức giao đất đã được xác định tại các khoản 1, 2 và 3 của điều luật tương ứng. Đồng thời, diện tích đất này không được tính vào hạn mức giao đất nông nghiệp của cá nhân theo các khoản nói trên. Việc xác định cụ thể hạn mức giao đất chưa sử dụng cho cá nhân để đưa vào sử dụng phải do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định, căn cứ vào quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, nhằm bảo đảm việc sử dụng đất hiệu quả và phù hợp với quy hoạch phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản của địa phương.
- Đất nông nghi sử dụng ngoài đơn đăng ký thường trú
Theo quy định khoản 6 điều 176 Luật đất đai 2024:
Đối với diện tích đất nông nghiệp mà cá nhân đang sử dụng ngoài xã, phường, thị trấn nơi đăng ký thường trú, pháp luật quy định rằng cá nhân vẫn được quyền tiếp tục sử dụng ổn định diện tích đất này, nhằm đảm bảo quyền sử dụng đất lâu dài và ổn định trong quá trình sản xuất nông nghiệp. Việc cho phép tiếp tục sử dụng đất ngoài nơi đăng ký thường trú cũng phản ánh sự linh hoạt trong quản lý đất đai, đồng thời phù hợp với thực tế sản xuất, khi nhiều cá nhân có nhu cầu sử dụng đất ở các địa bàn khác với nơi thường trú để phục vụ sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, lâm nghiệp hoặc làm muối.
Trong trường hợp diện tích đất này là đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất, pháp luật quy định rõ rằng diện tích đó sẽ được tính vào hạn mức giao đất nông nghiệp của cá nhân, nhằm xác định đúng tổng diện tích đất nông nghiệp mà cá nhân được Nhà nước giao sử dụng. Điều này giúp bảo đảm việc quản lý đất đai minh bạch, tránh tình trạng vượt hạn mức cho phép, đồng thời duy trì sự công bằng giữa các cá nhân trong việc sử dụng và tiếp cận đất nông nghiệp.
Bên cạnh đó, cơ quan có chức năng quản lý đất đai tại nơi đã giao đất nông nghiệp có trách nhiệm gửi thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cá nhân đăng ký thường trú để tiến hành việc tính hạn mức giao đất nông nghiệp theo quy định. Quy định này nhằm đảm bảo thông tin về diện tích đất sử dụng được cập nhật đầy đủ, giúp các cơ quan nhà nước có cơ sở chính xác để quản lý, kiểm soát hạn mức giao đất, đồng thời hỗ trợ việc lập kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển nông nghiệp và lâm nghiệp của địa phương.
- Diện tích đất nông nghiệp không tính vào hạn mức giao đất
Theo khoản 6 điều 176 Luật đất đai 2024, Đối với diện tích đất nông nghiệp mà cá nhân có được thông qua các hình thức dân sự như nhận chuyển nhượng, thuê hoặc thuê lại, nhận thừa kế, được tặng cho quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất từ người khác, nhận khoán, hoặc được Nhà nước cho thuê đất, pháp luật quy định rằng những diện tích này không tính vào hạn mức giao đất nông nghiệp của cá nhân. Quy định này nhằm phân biệt rõ giữa đất được Nhà nước giao trực tiếp cho cá nhân và đất mà cá nhân có được thông qua các giao dịch dân sự hoặc hình thức khác.
Việc không tính những diện tích đất này vào hạn mức giao đất nông nghiệp đảm bảo rằng cá nhân vẫn có quyền hợp pháp sử dụng đất mà mình nhận được từ người khác hoặc từ Nhà nước mà không bị hạn chế bởi hạn mức quy định đối với đất được giao trực tiếp. Đồng thời, quy định này giúp cơ quan quản lý đất đai dễ dàng xác định chính xác tổng diện tích đất nông nghiệp được Nhà nước giao cho từng cá nhân, tránh tình trạng tính trùng hạn mức, bảo đảm sự công bằng và minh bạch trong quản lý, sử dụng đất nông nghiệp.
Kết luận
Việc quy định điều kiện đối với cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi nhận chuyển nhượng đất trồng lúa vượt quá hạn mức trong Luật Đất đai 2024 là bước đi cần thiết và phù hợp với thực tiễn quản lý đất đai hiện nay. Các điều kiện này góp phần hạn chế tình trạng đầu cơ, tích trữ đất lúa trái với mục đích sản xuất nông nghiệp, đồng thời bảo đảm quỹ đất trồng lúa được sử dụng đúng định hướng, phục vụ lợi ích chung của xã hội. Bên cạnh đó, quy định còn tạo ra sự cân bằng giữa quyền tiếp cận đất đai của các chủ thể và trách nhiệm bảo vệ tài nguyên đất, qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai. Có thể khẳng định rằng, với các điều kiện được đặt ra một cách hợp lý và chặt chẽ, Luật Đất đai 2024 không chỉ bảo vệ đất trồng lúa – nguồn lực đặc biệt quan trọng của quốc gia – mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp ổn định, bền vững và lâu dài.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp.